12. Cuộc di cư lịch sử của dạng sống tuệ linh và dạng sống con người xuất hiện

Để tạo được môi trường sinh sống và tu luyện cải tạo luyện trụ linh của các tuệ linh thành bộ lọc năng lượng, người cha vĩ đại sẽ phải tìm một hành tinh có chứa đựng đầy đủ các điều kiện khắc nghiệt nhất. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khắc nghiệt trong đấu tranh sinh tồn, sự phức tạp hóa trong cuộc sống và cuộc sống không có gì ngoài khổ đau. Bởi cõi trời của ngài đã quá nhiệm màu và thanh tịnh từ vạn vật đến các tuệ linh. Điều đó đã làm cho các tuệ linh không thể luyện được trụ linh có khả năng hấp thụ được năng lượng của khổ đau, năng lượng hoại diệt, để chuyển hóa thành năng lượng tốt. Chính vì thế chỉ có tạo ra một môi trường sống ngược lại với sự thanh tịnh và nhiệm màu, đó là không có gì ngoài khổ và sự khắc nghiệt cùng cực thì mới khiến cho các tuệ linh tu luyện cải tạo trụ linh thành công.

Để thực hiện được kế hoạch 1 - kế hoạch xây dựng nhân loại. Ngài đã gieo vô số phôi năng lượng âm dương, phôi âm dương chính là duyên. Ngài gieo duyên đến khắp các hành tinh trong vũ trụ để tìm ra hành tinh có đủ điều kiện sống khắc nghiệt mà vẫn duy trì được sự sống cho các tuệ linh. Ngài đã tìm ra được hành tinh phù hợp đó là trái đất. Tại sao trái đất lại là điều kiện lý tưởng để ngài xây dựng nhân loại và là môi trường tu hành cho các tuệ linh? Bởi trái đất quay xung quanh mặt trời, mặt trăng quay xung quanh trái đất, các hành tinh khác cũng theo đó mà quay xung quay nhau tạo thành quỹ đạo di chuyển có sự cân bằng về năng lượng âm dương, đó là lực đẩy và lực hút giữa các hành tinh mà tạo ra sự duy trì cân bằng năng lượng âm dương. Đây là điều kiện lý tưởng để các hành tinh không bị va đập vào nhau gây hủy diệt môi trường tu hành. Quỹ đạo di chuyển của trái đất và các hành tinh làm cho thiên nhiên trên trái đất có sự khắc nghiệt, đó là môi trường tu hành lý tưởng nhất cho các tuệ linh sinh sống và tu luyện.

Kế hoạch xây dựng nhân loại làm môi trường tu hành được ngài chia ra làm 4 kế hoạch, 4 kế hoạch này sẽ giúp cho các tuệ linh luyện được cấu trúc mã sóng trí tuệ trong trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất:

Kế hoạch 1, vị Tuệ linh đầu tiên (ngài) sáng tạo và quan sát sự sống trên trái đất:

Ngài gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra hoạt động phun trào nham thạch, tạo thành núi cao và những vùng trũng khuyết, hố sâu. Ngài quan sát quá trình thay đổi của trái đất để tạo ra nơi cao và nơi thấp.

Ngài gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương đến trái đất để tạo ra các tầng năng lượng, các tầng năng lượng di chuyển tạo ra sự tương tác phản ứng tạo thành bầu khí quyển có oxy và các yếu tố khác. Từ đó hình thành các đám mây gây ra mưa, nước chảy từ nơi cao xuống nơi thấp, từ núi cao xuống nơi hố sâu, quá trình này tạo thành sông, hồ, biển. Ngài quan sát quá trình nước mưa rơi từng hạt xuống, tụ lại và chảy về nơi thấp hơn để kết tụ lại thành một chỉnh thể nước lớn. Ngài quan sát nước chảy từ trên cao xuống nơi thấp mà hình thành sông ngòi, ao hồ và biển lớn.

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra thảm thực vật, cỏ, cây. Ngài quan sát thấy cỏ cây hút nước để nuôi dưỡng và trưởng thành. Ngài quan sát hạt mầm ngài gieo ra nảy mầm, phát triển và to lớn, ra hoa, ra quả và hạt của quả lại rơi xuống đất một cây con lại hình thành.

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra các loại vi khuẩn, vi sinh vật, côn trùng để tương tác với nước, thảm thực vật, cỏ cây để tạo ra sự tương tác hỗ trợ cho sự sống phát triển, bước tiếp theo là hỗ trợ cho sự sống mới ở trái đất.

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra chim muông, ngài quan sát những con chim ăn quả chín trên cây, thả hạt vương vãi ra xung quanh hoặc mang quả đi nơi khác ăn, rồi những hạt cây rơi xuống, nảy mầm và mọc thành cây, quá trình này tạo thành rừng cây. Ngài lại quan sát chim muông ăn những thức ăn và mang hạt đi gieo sự sống khắp nơi.

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra muông thú, các loài thú dữ, các loài thú lành, loài bò sát. Ngài quan sát những muông thú giao phối giữa giống đực và giống cái để sinh con và phát triển loài. Ngài quan sát từng loài sống bầy đàn với nhau, chúng không tách rời, sống xung quanh và bảo vệ nhau trước sự tấn công của các loài khác. Ngài quan sát các loài thú lớn đi săn, ăn thịt những loài thú bé và yếu hơn để sinh tồn. Ngài quan sát các loài thú lành ăn cỏ cây hoa lá để sinh tồn. Ngài quan sát trong bầy đàn muông thú sẽ có con làm thủ lĩnh và những con khác phải thuận theo mệnh lệnh của con thủ lĩnh.

Ngài gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra vô số loài sống dưới nước (các loài cá) và trên không (chim muông). Ngài quan sát thấy chúng sống như những con thú trên mặt đất.

Ngài quan sát sự tác động, tương tác của mặt trời, mặt trăng mà tạo ra gió bão, sóng biển, thủy triều, mưa, sấm sét dẫn đến trên trái đất có khu vực thì mưa bão, có khu vực thì lạnh giá đóng băng, có khu vực nóng và hỏa hoạn.

Ngài quan sát thấy tất cả vạn vật từ cỏ cây, hoa lá, đến nước, muông thú đều sinh ra và chết. Nước thì bốc hơi mà cạn kiệt, rồi hơi nước kết tụ thành mây mà gây mưa. Muông thú không ăn thịt nhau thì do già mà hết vòng sinh tử. Cỏ cây không bị muông thú ăn thì cũng già khô mà chết. Vạn vật không tự hoại diệt hay ăn nhau mà chết thì sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng làm cho vạn vật hoại diệt.

Quá trình gieo duyên tạo ra sự sống phải trải qua thời gian dài để hoàn thiện môi trường sống khắc nghiệt, lý tưởng, để cho các tuệ linh xuống sinh sống và tu hành. Trong quá trình gieo duyên tạo ra sự sống, ngài đã quan sát và thấy bản chất quy luật tự nhiên của vạn vật như sau: Đó là sự kết tụ của tính âm, là sự tỏa ra của tính dương, là sự cân bằng giữa thừa và thiếu, là sự cân bằng của âm và dương, là sự sinh, sự tồn tại, sự hoại diệt, sự lan tỏa, sự đoàn kết, sự phát triển duy trì loài, sự gieo duyên, sự xây dựng phát triển, sự phá hủy, sự thống lĩnh, sự tuân theo, sự gieo nhân và gặt quả, sự khổ và khổ đau. Bởi quá trình quan sát sự sống và vận hành của vạn vật đã giúp cho ngài thiết lập giáo luật công bằng dựa trên cơ chế phân tách, chụp chiếu hạt năng lượng. Đó là luật nhân quả. Luật nhân quả để cho vạn vật và các tuệ linh sinh sống tại trái đất phải tuân theo để đảm bảo quá trình tu luyện cải tạo trụ linh thành bộ lọc năng lượng được thành công.

Kế hoạch 2, vị Tuệ linh đầu tiên đưa các tuệ linh xuống trái đất và nhân loại được hình thành:

 Sau khi ngài đã tạo dựng được môi trường sống tại trái đất đạt được điều kiện lý tưởng nhất. Đó là sự khắc nghiệt về điều kiện sống, về sự sinh diệt, về khổ đau mà vẫn đảm bảo được điều kiện duy trì sự sống và cân bằng. Ngài tiếp tục thực hiện kế hoạch thứ 2 để xây dựng loài người và nhân loại:

Ngài gieo duyên bằng vô số các phôi năng lượng âm dương để tạo ra sự sàng lọc các loài thú nguy hiểm đến sự tồn tại và sinh sống của các tuệ linh khi xuống nhân gian. Đó là các thời kỳ núi lửa phun trào, thời kỳ băng hà đã làm cho nhiều loài động vật nguy hiểm to lớn bị hoại diệt và tuyệt chủng. Chỉ còn lại những loài động vật đủ tương tác, giúp cho các tuệ linh tránh bị hoại diệt và vẫn đảm bảo các điều kiện tu hành.

Ngài phát động các tuệ linh tại cõi trời của ngài “Phát đại nguyện” thế hệ đầu tiên xuống trái đất xây dựng nhân loại và tu hành. Khi đó, thời cơ và điều kiện đảm bảo cuộc sống tu hành ở trái đất đã đến, đã có vô số các tuệ linh phát nguyện tiên phong là những vị đầu tiên xuống trái đất. Tất cả các tuệ linh đã phát nguyện xuống tu hành sẽ được một hội đồng biên bản luật được thành lập bởi vị Tuệ linh đầu tiên, đưa ra các điều luật nhằm đảm bảo cho các tuệ linh tuân thủ và thực hiện theo. Trong biên bản luật có một điều mà đã được vị Tuệ linh đầu tiên thuyết cho các tuệ linh trước khi xuống trái đất là: “Các tuệ linh sẽ phải trải qua nhiều kiếp tu hành, trải qua hết tất cả các khổ đau và kiếp nạn, lấy kinh nghiệm đó để cải tạo trụ linh thành bộ lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được trở về”.

Vị Tuệ linh đầu tiên đã dùng đến sự nhiệm màu về hào quang của các tầng năng lượng mà đưa các tuệ linh xuống trái đất. Biến họ thành những con người có da, có thịt, có xương, có đầy đủ và hoàn chỉnh. Đây là điều đặc biệt duy nhất chỉ có thế hệ đầu tiên của các tuệ linh xuống trái đất tu hành thì mới được chuyển hóa thành thân tướng. Để sự chuyển hóa này được thành công thì các tuệ linh phải dùng toàn bộ năng lượng trong chính các tuệ linh và sự trợ giúp của vị Tuệ linh đầu tiên. Sau khi chuyển hóa thành con người xong thì các tuệ linh không còn các pháp nhiệm màu, không thể bay hay di chuyển trong vũ trụ được nữa, mà phải sống như những muông thú đã được tạo trước đó, phải đi, phải leo trèo, bơi lội.

Cuộc tập kết lịch sử khởi đầu cho sự hình thành loài người tại nhiều nơi trên trái đất như ven sông, ven biển, đồng bằng, trên núi, trong rừng, những nơi đó có vô số các điểm tập kết lịch sử. Tại các điểm tập kết lịch sử đó, vị Tuệ linh đầu tiên đã dùng quyền năng của mình để triệu tập tất cả muông thú về nghe ngài truyền dạy về luật nhân quả mà tất cả muông thú cùng với các tuệ linh sống tại trái đất phải tuân theo. Tại mỗi điểm tập kết sẽ có các tuệ linh được hóa thành từng cặp vợ chồng với hai con nhỏ, có một con gái và một con trai. Mỗi điểm tập kết sẽ có hai đến nhiều hộ gia đình và muông thú đến nghe ngài truyền dạy. Đây là cơ sở để loài người hình thành các bộ lạc, bộ tộc và ngày nay là quốc gia.

Ngài truyền dạy tại các điểm tập kết lịch sử, ngài nói với các cặp gia đình là: “Ta đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về cũng phải bằng chân tâm”. Ngài nói với các cặp bố mẹ: “Ta giao sứ mệnh cho các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân loại”. Ngài nói với các cặp gia đình: “Các ngươi sẽ phải trải qua nhiều kiếp, trải qua hết các khổ đau và kiếp nạn; lấy kinh nghiệm trải qua đó để cải tạo trụ linh thành bộ lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được trở về”. Ngài nói với các hộ gia đình và muông thú: “Ta giao cho các ngươi nhiệm vụ thuần hóa muông thú để chúng cũng làm người và cùng xây dựng nhân loại”. Ngài nói với tất cả các hộ gia đình và muông thú: “Ta cho các ngươi biết, để nhanh cải tạo trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì các ngươi hãy tìm kiếm chân lý vạn vật và chuyển hóa giác ngộ trong khổ đau và kiếp nạn”.

Như vậy, những lời truyền dạy của ngài là luật, là sự chỉ dẫn cho các tuệ linh sống và tu hành tại nhân gian này tuân thủ và làm theo, để nhanh chóng hoàn thành quá trình tu luyện cải tạo trụ linh thành bộ lọc năng lượng, để trở về nơi mà họ đã đi. Ngài không chỉ luôn cho tất cả muông thú và các hộ gia đình chân lý vạn vật, bởi họ mới bắt đầu sự sống, họ phải xây dựng nhân loại. Nên họ cần thời gian để xây dựng phát triển cuộc sống của nhân loại, cần thời gian để trải qua khổ đau kiếp nạn mới tìm ra được chân lý vạn vật và chuyển hóa giác ngộ. Như vậy, ngài đã thấu hiểu hết chân lý vạn vật, nhưng ngài cần các tuệ linh phải tu hành để mà tìm ra và từ đó phải tìm thêm chân lý giác ngộ. Chân lý vạn vật chính là cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng, đã được ngài chuyển hóa thành giáo luật nhân quả. Giáo luật này đã được ngài xây dựng hoàn thiện trong quá trình quan sát sự vận hành của vũ trụ, quan sát quá trình vận hành sự sống của trái đất. Ngài thấu hiểu rằng, việc thấu hiểu chân lý vạn vật mới chỉ giúp thấu hiểu căn nguyên của vạn vật, căn nguyên của sinh diệt trong tất cả các dạng sống chứ chưa chuyển hóa năng lượng, chưa thể tạo ra cấu trúc bộ lọc năng lượng cho tuệ linh. Việc ngài cần các tuệ linh không những phải thấu hiểu chân lý vạn vật, thấu hiểu luật nhân quả mà còn phải giác ngộ được việc chuyển hóa năng lượng, đó chính là giác ngộ được chân lý giác ngộ. Để giúp cho nhân loại tìm ra được hai chân lý, ngài tiếp tục gieo duyên, tạo ra sự phát triển và phức tạp hóa cuộc sống dưới nhân gian.

Kế hoạch 3, vị Tuệ linh đầu tiên gia tăng sự phát triển và phức tạp môi trường tu hành:

Ngài tiếp tục đưa các tuệ linh xuống trái đất để gia tăng dân số cho dạng sống con người. Sự đặc biệt của sự chuyển hóa từ tuệ linh thành con người chỉ được thực hiện ở lần đầu tiên khi đưa các tuệ linh xuống. Bắt đầu từ lần thứ hai cho đến ngày nay và về sau sẽ phải tuân thủ theo luật luân hồi. Luật luân hồi thể hiện ở chỗ: khi các cặp vợ chồng giao phối, tinh trùng mang sóng điện dương của người nam và trứng mang sóng điện âm của người nữ hợp lại thành phôi thai; phôi thai phát triển trong bụng người nữ đến khi sinh ra, thì các tuệ linh mới thiết nhập vào em bé và cất tiếng khóc chào đời, đó chính là đánh dấu mốc tuệ linh đã thiết nhập vào; khi tuệ linh thiết nhập vào em bé sẽ quên đi hết quá khứ, trí tuệ của tuệ linh, quên đi mình là ai, mình phải làm gì và chết sẽ đi về đâu cũng không được biết. Ở những thế hệ đầu tiên thì con người vẫn được mở nhãn thần nên vẫn nhìn được về với các tuệ linh, biết mình từ đâu đến, đến đây để làm gì. Do đó con người thời đó là sau mỗi lần thu hoạch mùa màng đã biết dâng tế với các tuệ linh và ngài vì ngài đã giúp đỡ họ phát triển nhân loại. Mỗi một em bé được sinh ra thì lại có một tuệ linh được xuống luân hồi hoặc linh hồn muông thú đã được thuần hóa đầu thai vào để tu hành. Ngày nay để khai mở được nhãn thần thì con người phải tu tập mới nhìn được các ngài và tìm hiểu được tổ tiên của loài người là ai, do đó hiểu được tổ tiên của loài người là các tuệ linh từ dạng sống tuệ linh hóa thân xuống chứ không phải là khỉ vượn tiến hóa thành. Thấu hiểu là do nguyện lực để xuống đây tu luyện chứ không phải là bị đọa xuống đây.

Tại cõi trời của dạng sống tuệ linh, sau khi các tuệ linh hóa thân xuống nhân gian tu hành, thì các hội đồng nghiên cứu, các hội đồng tu luyện được gia tăng về số lượng. Sự hình thành này nhằm nghiên cứu các phương pháp, sáng chế ra các công cụ để giúp cho con người biết cách sản xuất nông nghiệp, biết cách làm nhà để ở, biết cách đoàn kết để tổ chức thành hình thái bộ tộc, bộ lạc nhằm bảo vệ nhau trước những bộ tộc, bộ lạc khác. Tại các hội đồng này, khi nghiên cứu xong, các tuệ linh sẽ phải phát nguyện với ngài để luân hồi xuống nhân gian và khi lớn lên sẽ có trí tuệ hoàn thành phát minh đó để áp dụng cho con người cải tạo cuộc sống dưới nhân gian. Các hội đồng này tiếp tục nghiên cứu các phương pháp, kỹ thuật thu phục muông thú, thuần hóa muông thú, thâm canh sản xuất, phát triển nền nông nghiệp, phát triển hình thái quốc gia, phát minh ra các công trình phát triển nền công nghiệp, y học, lý số, toán học, hóa học, du hành không gian, hàng không, công nghệ… Mục đích là giúp dạng sống nhân loại ở trái đất ngày càng phát triển và làm cho mức độ tu hành không ngừng được nâng cao.

Ngài sẽ phân ra hai trường hợp để cho các tuệ linh xuống trái đất luân hồi, nhằm tạo ra sự phức tạp cho quá trình tu luyện. Bởi chỉ có phức tạp, đầy rẫy khổ đau mới đẩy các tuệ linh đã đầu thai xuống nhân gian vào con đường tìm tòi, nghiên cứu và tìm ra con đường giải thoát các khổ đau đó. Trường hợp luân hồi xuống để tu hành và cải tạo bộ lọc cho trụ linh sẽ phải sống luân hồi trong nhiều kiếp, phải trải qua hết các khổ đau và kiếp nạn, khi nào hoàn thành cải tạo được trụ linh mới được trở về. Trường hợp thứ 2 là các tuệ linh ở các hội đồng nghiên cứu những phương pháp trợ giúp con người, gia tăng sự phát triển nhân loại, gia tăng mức độ phức tạp cho môi trường tu hành, thì chỉ cần xuống một kiếp, truyền lại được những phát minh, công trình nghiên cứu đó cho con người áp dụng, ứng dụng vào cuộc sống dưới nhân gian thì sẽ được trở về luôn mà không phải luân hồi trong nhiều kiếp.

Vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra cuộc sống ở trái đất ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật không ngừng tìm hiểu sự sống ngoài trái đất. Hình thái cuộc sống từ bộ tộc, bộ lạc đã chuyển thành quốc gia và hướng đến sự thống nhất của toàn thế giới như việc hình thành các tổ chức liên minh đoàn kết của nhiều quốc gia và thế giới. Mức độ phức tạp nhiều giai đoạn được đẩy mạnh thành các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, bộ lạc, giữa các dân tộc với nhau và toàn thế giới với nhau. Liệu đây có phải là kế hoạch của ngài không? Đây không phải, đây là kế hoạch phá hủy môi trường tu hành của Quỷ chúa (Ma vương). Quỷ chúa, ma vương? Vị Tuệ linh đầu tiên thấu hiểu căn nguyên việc hình thành ra họ nên ngài dự liệu được những việc của họ làm nơi trái đất và khắp vũ trụ. Dù là kế hoạch phá hủy của quỷ chúa nhưng nó lại càng giúp cho loài người tìm tòi đến sự giải thoát khỏi khổ đau. Những con người nghiên cứu, tu luyện thần thông, tu luyện về tâm linh đã tiếp dẫn đến với các tuệ linh, đến với cõi trời của quỷ và cuộc sống dưới trái đất đã hình thành rất nhiều môn phái, trường phái, dòng đạo khác nhau, làm cho sự mong cầu về sự giải thoát, tìm ra con đường giải thoát hơn bao giờ hết. Các dòng đạo, tôn giáo, môn phái, trường phái, hình tướng đạo đã góp phần làm cho mức độ tu luyện dưới nhân gian trở nên căng thẳng và phức tạp vô cùng. Con người đã không biết đâu là đúng đâu là sai, đâu là con đường họ cần đi theo. Đặc biệt đến nay, con người không biết sự thật về tổ tiên loài người, mình là ai, ai là mình, mình phải làm gì ở dưới nhân gian. Chính vì thế con người ngày càng trở nên tha hóa trong cuộc sống, sự hưởng lạc, mưu hại, giết hại nhau không ngừng, đạo đức xã hội bị biến đổi đi xuống trầm trọng, các giá trị nhân văn được thay thế bằng giá trị của mê tín dị đoan. Điều này lại đẩy đến cao trào của sự hoại diệt môi trường tu hành của nhân loại mà vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra. Sau mỗi lần như vậy, dưới nhân gian lại xuất hiện các bậc giác ngộ để dẫn dắt và cứu rỗi cho cả nhân loại.

Kế hoạch 4, sự dẫn dắt và tìm ra hai chân lý cải tạo trụ linh:

Cuộc sống ở nhân gian ngày càng phức tạp và phát triển, chiến tranh liên miên giữa các bộ tộc, giữa các quốc gia đã đẩy con người đến tận cùng của khổ đau, tận cùng của sân hận, tận cùng của toan tính, tận cùng của sự hoại diệt. Con người không cần biết và quan tâm về cội nguồn của loài người, mình là ai, mình phải làm gì ở cõi trần nhân gian này. Vì thế con người chỉ mải mê kiếm tìm sự hưởng lạc, trụy lạc, mưu mô trục lợi về mình. Các tuệ linh đã luân hồi xuống trái đất này vô số, cứ đi xuống mà chưa tìm ra được hai chân lý để cải tạo trụ linh nên chưa thể được về. Cứ thế, dân số ở trái đất này không ngừng được gia tăng do nhiều muông thú sau khi được thuần hóa thành thú lành đã được luân hồi đầu thai thành người để sống cuộc sống kiếp người với những con người là hóa thân của dạng sống tuệ linh. Họ sống hỗn độn với nhau và chính hóa thân của các tuệ linh không thể nhận biết, họ mưu hại, giết hại, lừa hại nhau, con người giết hại muông thú, linh hồn các con thú dữ báo thù giết hại lại con người, con người giết hại lẫn nhau. Tất cả tạo ra vô số khổ đau dưới nhân gian, vô số kiếp nạn trong nhân gian, đó cũng là cơ hội cho những sứ giả của vị Tuệ linh đầu tiên, cho những hóa thân của tuệ linh thôi thúc việc đi tìm ra chân lý giải thoát khỏi khổ đau.

Vị Tuệ linh đầu tiên đã gieo duyên, trợ nhân duyên cho vô số các tuệ linh dưới nhân gian, giúp họ được thôi thúc từ tâm để tìm tòi, nghiên cứu và tìm ra chân lý vạn vật và chân lý giải thoát. Trong lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự hình thành vô số tín ngưỡng thờ các vị thần, vị thánh, hình tướng các đạo phái ra đời để giúp cho con người xây dựng được đức tin và giá trị đạo đức. Đó là đức tin của sự tin theo, phụng sự, tu theo để được giải thoát khỏi khổ đau nơi nhân gian. Nhưng cuối cùng tất cả các tín ngưỡng đó vẫn chưa dẫn dắt được con người đến với sự hiểu biết về tổ tiên của loài người. Con người vì u mê, vì tham lam, sân hận mà tạo vô số nghiệp lực và rồi để nghiệp lực đã tạo thành tầng năng lượng khí xấu bám chặt vào tuệ linh trong các kiếp kế tiếp. Điều này đã làm cho loài người ngày càng mê lầm, họ mải mê tìm sự giải thoát khỏi cuộc sống này bằng lễ nghi, nghi thức cúng cầu đến các vị thần để được giải thoát. Có quá nhiều tín ngưỡng và hình tướng đạo đã dẫn dụ chúng sinh đến với các nghi lễ để cầu xin với các đấng, các thần, các thánh thần nhằm giúp họ cầu được công danh, địa vị, tiền tài, giúp họ vãng sinh về cõi trời của các vị thần vị thánh đó. Như vậy, việc hình thành các tín ngưỡng, các hình tướng đạo đã giúp cho chúng sinh tìm tòi để nhận thấy chân lý vạn vật và đi tìm sự giải thoát là điều rất tốt. Nhưng nó chỉ tốt bởi hình tướng là có xuất hiện nhóm, tổ chức nghiên cứu. Tuy nhiên nó lại vô tình đẩy chúng sinh đi vào con đường lầm than, mê lầm bởi việc đi ngược với sứ mệnh là sống trong khổ đau kiếp nạn để tìm ra chân lý vạn vật và giác ngộ nhằm cải tạo trụ linh chứ không phải cầu nguyện, niệm danh hiệu để được sinh về các cõi trời của các vị thần, vị chúa hay vị phật nào cả. Như vậy, ngài gieo duyên vô số và hình thành vô số tín ngưỡng, môn phái, hình tướng đạo nhưng cuối cùng cũng không tìm ra con đường cải tạo trụ linh mà lại còn đi vào mê lầm của những nghiệp lực và lừa lọc hại nhau.

Ngài vẫn không ngừng nghỉ việc gieo duyên trợ giúp những hóa thân của các tuệ linh đang mải miết tìm con đường giác ngộ để cải tạo trụ linh và các cơ chế cứu lại các dạng sống trong và ngoài vũ trụ. Đó là những con người được thôi thúc từ trong tâm họ để họ xa rời với lợi ích, ích kỷ cá nhân, xa rời dục vọng, với phù du giả tướng, để trải qua, thấm nhuần các khổ đau, các kiếp nạn. Điều đó đã giúp họ có kinh nghiệm vượt qua khổ đau kiếp nạn, kinh nghiệm này được tích lũy trong nhiều kiếp, khi nó lớn mạnh thì những con người đó đã trở thành những bậc giác ngộ của nhân loại. Trong lịch sử nhân loại có thể kể đến những bậc giác ngộ, đặc biệt đầu tiên là Đức Phật Thích Ca đã tìm ra chân lý vạn vật và chuyển hóa giác ngộ được thành chân lý giác ngộ để đạo Phật được hình thành và dẫn dắt chúng sinh tu đạo giải thoát. Tiếp sau đó là Chúa Jesus của đạo Thiên chúa cũng đã dẫn dắt chúng sinh rời xa việc ác, hành thiện và giúp đỡ nhau để được trở về với Chúa. Tiếp đến là nhà tiên tri Mohammed đã sáng lập ra đạo Hồi và truyền bá giáo lý để dẫn dắt con dân của họ trở về với Chúa. Họ là những lãnh tụ tinh thần dưới nhân gian, họ đã trải qua nhiều đời nhiều kiếp tu hành trong khổ đau, lấy kinh nghiệm khổ đau để giác ngộ và cải tạo được trụ linh thành những bộ lọc năng lượng để trở về và duy trì sự sống ở khắp vũ trụ. Họ đón nhận những con người tu theo đường lối của họ sau khi thoát tục cõi trần và có đủ khả năng vận hành trụ linh tỏa ra năng lượng tốt sẽ được sinh về các hành tinh đó để tiếp tục duy trì sự sống trong vũ trụ.

Trong 4 kế hoạch này, vị Tuệ linh đầu tiên vẫn đang gieo vô số duyên để 4 kế hoạch đó tiếp tục diễn ra, tiếp tục tạo ra môi trường tu hành khắc nghiệt hơn, tiếp tục có các công trình nghiên cứu từ các hội đồng của dạng sống tuệ linh được đưa xuống trái đất để xây dựng nhân loại. Ngài tiếp tục gieo vô số duyên để giúp cho hóa thân của các tuệ linh tìm ra con đường cải tạo trụ linh viên mãn nhất, giúp cho tất cả các tuệ linh đạt được sự cải tạo đó để trở về thực hiện kế hoạch 2 là đi duy trì, bảo vệ, phát triển sự sống trong và ngoài vũ trụ.

Như vậy, cuộc di cư lịch sử của dạng sống tuệ linh đã phát triển thêm dạng sống muông thú, dạng sống con người ở trái đất. Tại trái đất là sự chung sống của cả ba dạng sống phức tạp nhất trong vũ trụ. Dạng sống con người được coi là siêu phức tạp, vì là sự kết hợp dạng sống thân tướng như muông thú và trí tuệ của dạng sống tuệ linh.

Tôi xin tổng hợp, kết tinh lại các kế hoạch của vị Tuệ linh đầu tiên: để tìm ra được cơ chế, phương pháp, bài thuốc cứu được tất cả các dạng sống thì phải có một môi trường tương tác vô cùng phức tạp và đặc biệt. Có thể được đúc kết thành câu “Để tìm ra được bài thuốc cứu lại sự sống của tất cả các dạng sống thì phải dùng độc để tìm ra bài thuốc đó”.
Địa chỉ: Văn Phòng Khai Tâm - 138 Mễ Trì Thượng, Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội
Biên soạn: Thầy Hoàng Văn Trường (Nhật Sư Hoàn Đạo).
Website có đăng ký bản quyền, Vui lòng trích dẫn nội dung hoặc liên hệ với chúng tôi để chia sẻ bản quyền.