2. Ứng dụng hai chân lý vào quan sát và phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng

2. Ứng dụng hai chân lý vào quan sát và phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng


Hai chân lý chính là chân lý vạn vật (chân lý nhân quả) và chân lý giác ngộ. Hai chân lý này đã được Tuệ linh của tôi tìm ra, hành theo và thành đạo ở trong các kiếp quá khứ. Hai chân lý này chính là chân lý hợp nhất vĩ đại để dẫn dắt chúng sinh trời người thành đạo, đó là cải tạo trụ linh của tuệ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Hai chân lý này cũng là chân lý hợp nhất vĩ đại duy nhất dẫn dắt trời và người cùng duy trì sự tồn tại, phát triển vạn vật vũ trụ và trời người.

Chân lý vạn vật (chân lý nhân quả): “Vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ không tự sinh ra, không tự mất đi, khổ đau không tự đến, khổ đau không tự đi. Tất cả do duyên và nghiệp, hay còn gọi là nhân và quả”. Chân lý vạn vật là lý luận gốc nhất, lý luận cội nguồn của vạn vật vũ trụ, tuy đơn giản nhưng nó mãi mãi là chân lý, nó luôn luôn đúng với vô lượng thời gian tồn tại và phát triển của vũ trụ. Thấu hiểu chân lý vạn vật này chính là thấu hiểu cơ chế, bản chất của vạn vật trong và ngoài vũ trụ trời người. Chân lý vạn vật giúp cho trời và người thấy căn nguyên tận cùng của vạn vật, sự việc và hiện tượng.

Chân lý giác ngộ: “À, đời là bể khổ. Chúng sinh trời người phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ, giải thoát hết tất cả các khổ đau trong và ngoài vũ trụ, trời và người”. Chân lý giác ngộ là chân lý được chuyển hóa, kế thừa từ chân lý vạn vật. Đó là chân lý của sự chuyển hóa năng lượng trong và ngoài vũ trụ trời người. Chân lý giác ngộ là con đường duy nhất tạo ra các siêu năng lượng giúp vũ trụ trời người tồn tại và phát triển.

Hai chân lý chính là lý luận, là tư tưởng triết học thống nhất vĩ đại giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng” là bản chất của hai chân lý, là duy vật biện chứng, chứng thực cho chân lý thống nhất vĩ đại trên. Hai chân lý và cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng” sẽ được phân tích kỹ trong phần 2.

Dùng lý luận và bản chất của hai chân lý sẽ là phương pháp luận biện chứng khoa học để lý giải tận cùng vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người. Việc lý giải chính là ứng dụng lý luận và bản chất của hai chân lý vào quá trình quan sát, phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng. Khi ta quan sát, phân tích từ một mẫu, thậm chí đến một triệu mẫu hay vô số mẫu thì ta vẫn thấy luôn luôn đúng và không bao giờ sai với chân lý hợp nhất vĩ đại này.

Phương pháp ứng dụng: thấu hiểu hai chân lý, cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng” trong phần 2 cuốn sách này. Tiếp đến là áp dụng từ mẫu đơn giản cho đến phức tạp để biện chứng logic. Khi đó ta sẽ thấy hai chân lý này là chân lý thống nhất vĩ đại duy nhất cho sự tồn tại và phát triển vạn vật vũ trụ trời người.

Ví dụ 1: ta thấy một khối đá thạch anh. Đá thạch anh về khoa học có độ cứng 7.0, kết cấu tinh thể trong suốt, về thành phần hóa học thì trong đá thạch anh có 2 phân tử oxy và silic, gọi là silic đioxit, ký hiệu hóa học là SiO2, tính chất vật lý là khúc xạ kép. Vậy, trong khối đá thạch anh có liên quan gì đến hai chân lý và cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng”? Tôi trả lời là hoàn toàn có, nó nằm trong hai chân lý và điều này thật là thú vị. Ứng dụng chân lý vạn vật thì ta sẽ tìm ra được cội nguồn của đá thạch anh, bởi không tự nhiên sinh ra đá thạch anh, mà là do sự tương tác vận động của trái đất, hình thành ra các khoáng sản, trầm tích, trải qua hàng triệu năm mới hình thành đá thạch anh. Các khoáng sản, trầm tích dưới sự tác động bởi nhiệt độ phun trào của núi lửa, nhiệt độ của mặt trời, nhiệt độ của trái đất, và trải qua thời gian mà tạo ra khối đá thạch anh có độ cứng và tính chất hóa học cũng như tính chất vật lý. Chân lý giác ngộ ở viên đá thạch anh chính là khả năng khúc xạ kép, tức là nó đối mặt với năng lượng trời đất, hút năng lượng âm và chuyển hóa, tỏa ra năng lượng silic dioxit để cải tạo môi trường sống xung quanh tốt hơn. Khi biện chứng cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng vào khối đá thạch anh thì ta sẽ thấy rõ cơ chế và bản chất của sự hình thành ra khối đá thạch anh. Bản chất của cơ chế phân tách là một hạt năng lượng sẽ phân tách làm hai, hai phân tách làm bốn, bốn phân tách thành tám, và cứ thế phân tách không ngừng nghỉ. Ban đầu có một phôi năng lượng âm dương, dưới tác động của nhiệt độ, thời gian, năng lượng của vật chất xung quanh để thúc đẩy quá trình phân tách từ phân tách liên kết lỏng lẻo cho đến phân tách liên kết chặt. Để quá trình phân tách đạt đến liên kết chặt thì cần hàng triệu, hàng tỷ năm. Khi phân tách sơ khai ban đầu thì đó là nhân cho thành quả về sau hình thành khối đá thạch anh là liên kết chặt, đó là bản chất của chân lý vạn vật. Cơ chế liên kết (chụp chiếu) là đá thạch anh hấp thụ năng lượng xấu xung quanh để xử lý, chuyển hóa thành năng lượng tốt, đó là bản chất của chân lý giác ngộ, là đối mặt, giác ngộ để mang lại lợi ích cho vạn vật. Có lẽ đây là điều mới mẻ, lạ lẫm với độc giả, thậm chí là khó hiểu. Sẽ đơn giản và dễ hiểu khi độc giả nghiên cứu ở các phần tiếp theo.

Ví dụ 2: ví dụ đơn giản là ta gieo một hạt thóc vào ruộng sình lầy, mấy tháng chăm sóc và hạt thóc đã trở thành cây lúa cho ra những bông lúa chín vàng. Xét theo lý luận chân lý vạn vật thì bông lúa chín vàng không tự nhiên mà có, nó là thành quả của từ việc gieo hạt (nhân), chăm sóc để nhận được bông thóc chín vàng (quả). Xét theo chân lý giác ngộ, khi hạt thóc được gieo xuống ruộng sình lầy sẽ phải đối mặt với bao nhiêu mối đe dọa, từ việc bị côn trùng hay gia cầm, gia súc ăn mất, khi cây lúa lớn thì đối diện với bệnh tật, thời tiết để rồi trổ bông và có được bông lúa chín vàng. Đó là sự đối mặt của hạt thóc với vô vàn mối đe dọa để tạo ra thành quả cho con người gặt hái, đó chính là giác ngộ. Biện chứng theo cơ chế phân tách, liên kết (chụp chiếu) hạt năng lượng thì ta sẽ thấy rõ: hạt thóc chính là kết tụ của hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương, gọi là phôi âm dương; theo cơ chế phân tách hạt năng lượng thì phôi âm dương được gặp nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng đã phân tách từ hai hạt năng lượng thành bốn hạt năng lượng, từ bốn thành tám hạt năng lượng… đó là quá trình hạt thóc nảy mầm, đâm chồi, trưởng thành, ra bông lúa và chín; theo cơ chế chụp chiếu thì hạt thóc, mầm cây, cây lúa phải hấp thụ năng lượng, dinh dưỡng, nhiệt độ để giúp cho quá trình phân tách thuận lợi và cuối cùng thành quả là bông lúa chín vàng. Đến ví dụ này, độc giả đã hình dung và hiểu hơn về ứng dụng của hai chân lý vào việc quan sát, phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng. Nhưng có lẽ vẫn còn khó hiểu. Đó là điều tất nhiên rồi. Tôi sẽ đưa thêm một ví dụ về con người để độc giả hiểu rõ hơn việc ứng dụng hai chân lý vào quan sát và phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng.

Ví dụ 3: có một người học hành tài giỏi, người này tích lũy được nhiều kinh nghiệm sau nhiều năm làm thuê nên người này quyết định mở cơ sở kinh doanh riêng. Ban đầu làm ăn rất tốt, người này nhanh chóng trở thành ông chủ giàu có. Làm được vài năm thì người này bị nhân viên và đối tác lừa gạt dẫn đến thua lỗ lớn mà phá sản. Khi người này đến gặp tôi để tìm hiểu tại sao bị lừa hại trong khi người này sống rất tốt với nhân viên, làm ăn không lừa hại ai. Khi tôi thiền kiểm tra trong tâm người này, tôi thấy có những hạt năng lượng chứa đựng thông tin và hình ảnh ở kiếp trước. Kiếp trước người này có lừa đảo chiếm đoạt tiền của một thương nhân, khiến cho thương nhân đó từ giàu có mà nghèo. Tuy nhiên sau khi lừa đảo, chiếm đoạt tiền của thương nhân đó, thì người này kiếp trước có phát triển kinh doanh và giúp đỡ được nhiều người nghèo khó. Tôi có khuyên người này là hãy vay mượn trang trải nợ, hãy tha thứ cho người hại mình, đó là nhân quả đã trả xong. Hãy tiếp tục gây dựng sự nghiệp bằng tình yêu thương đối với nhân viên và khách hàng thì anh sẽ thành công. Xét theo chân lý nhân quả thì việc bị lừa hại dẫn đến phá sản của người chủ này là do họ gieo nhân ác từ kiếp trước nên họ phải nhận quả nghiệp ở kiếp này. Xét theo chân lý giác ngộ thì họ đã và đang đối mặt với những khoản nợ, nếu họ hi sinh sự mất mát đó để trang trải trả các khoản nợ, dùng tâm thương người để gây dựng lại sự nghiệp đến thành công thì họ sẽ giác ngộ. Xét theo cơ chế phân tách, chụp chiếu hạt năng lượng thì kiếp trước người này tạo nghiệp, đã tạo thành những hạt năng lượng đen chứa đựng hình ảnh, thông tin của nghiệp lực; theo cơ chế phân tách thì hạt năng lượng nghiệp lực đó phân tách làm đôi có cùng mã sóng trí tuệ, một hạt bắn vào vũ trụ, một hạt bắn vào trí tuệ ở não bộ và lại phân tách làm đôi để một hạt đi vào trụ linh của tuệ linh; đến kiếp này, sự rung động tương tác trong kinh doanh sẽ tạo thành cơ chế chụp chiếu để hạt nghiệp lực trong vũ trụ hợp nhất với hạt nghiệp trong trụ linh của tuệ linh để trả nghiệp.

Những ví dụ bên trên chỉ là các ví dụ đơn giản chứng minh cho việc ứng dụng hai chân lý vào quá trình quan sát và phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người để thấy rằng đó là chân lý thống nhất, lý giải tận cùng của vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người.

Việc kết hợp giữa phương pháp thiền định và ứng dụng hai chân lý vào quá trình quan sát, phân tích và lý giải tận cùng vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người là bước tiến nhảy vọt của nhân loại trong việc thấu hiểu bản chất, cơ chế hình thành, tồn tại, phát triển của vũ trụ và trời người.   


Địa chỉ: Văn Phòng Khai Tâm - 138 Mễ Trì Thượng, Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội
Biên soạn: Thầy Hoàng Văn Trường (Nhật Sư Hoàn Đạo).
Website có đăng ký bản quyền, Vui lòng trích dẫn nội dung hoặc liên hệ với chúng tôi để chia sẻ bản quyền.