8. Bài Tuệ

Bài Tuệ cũng được hiểu là Tuệ Vô Tuệ.

Chữ Tuệ đầu tiên là khái niệm và bản chất của Tuệ, chữ Vô là chân lý vạn vật trong Tuệ, chữ Tuệ cuối cùng là chân lý giác ngộ.

8.1. Khái niệm về Tuệ

Tuệ là mức độ cải tạo được thế giới quan vũ trụ trời người bằng chân tâm của tuệ linh trời người”.

Mức độ cải tạo thế giới quan vũ trụ mà trung tâm là cõi trần nhân sinh, do đó các phẩm vị của các tuệ linh đạt được do cải tạo phải gắn liền với cõi trần nhân sinh này và lan tỏa ra khắp vũ trụ.

Cả chữ nhân và tuệ linh đều phải cải tạo thế giới quan vũ trụ trời người bằng chân tâm của sự từ bi, hỷ và xả.

Chữ nhân và tuệ linh phá hoại thế giới quan vũ trụ trời người bằng tâm ngã quỷ.

8.2. Bản chất của Tuệ

Con người dưới nhân gian được chia làm hai dòng người:

-    Dòng người là hóa thân của các tuệ linh ở cõi trời của Đấng tạo hóa (cõi a di di đà) và các cõi khác xuống nhân gian tu hành, ta gọi là dòng người Thiên ấn. Đây là dòng người có tầng năng lượng rất cao và mạnh, họ xuống nhân gian tu hành để tìm ra con đường cải tạo trụ linh của tuệ linh thành bộ lọc năng lượng nhằm đạt đến bất tử và duy trì cải tạo sự sống khắp trong và ngoài vũ trụ. Đó chính là đi tìm Đạo, bao gồm con đường tâm Đạo và hình tướng Đạo của cả vũ trụ trời người.

-    Dòng người là linh hồn của muông thú được dòng người Thiên ấn thuần hóa mà được chuyển sinh làm người, ta gọi là dòng người Nhân mệnh. Đây là dòng người mà do Đấng tạo hóa gieo duyên bằng các phôi năng lượng âm dương có sóng trí tuệ phức tạp để tạo ra muông thú. Sau quá trình được thuần hóa sẽ chuyển sinh làm người, họ có nhiệm vụ tạo ra môi trường tu hành để cho dòng người Thiên ấn tìm ra Đạo và rồi dòng người Thiên ấn sẽ phải dẫn dắt họ tu hành đắc đạo theo.

Dưới nhân gian, hai dòng người này cùng với muông thú chưa được thuần hóa và đang thuần hóa tạo thành môi trường sống vừa khắc nghiệt và vừa là lý tưởng. Đó là tạo thành môi trường sống để cho dòng người Thiên ấn thông qua khổ đau kiếp nạn, mà tìm tòi thấu hiểu nhân quả, chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ nhằm cải tạo trụ linh của tuệ linh có được bộ lọc năng lượng. Khi dòng người Thiên ấn và Nhân mệnh cùng muông thú sinh sống và tu hành trải qua nhiều kiếp, khi tương tác với nhau bởi duyên mà Đấng tạo hóa gieo, bởi duyên mà do chính họ gieo, mà tạo ra hành động thiện hay ác, hành động cải tạo hay phá hoại, hành động giết hại hay bảo vệ…

Sự tương tác trong 4 hình tướng đạo là đạo lễ, đạo đời, đạo đường, đạo đế vương với quá khứ hiện tại vị lai, với bốn hướng đông tây nam bắc, với thiên địa nhân hợp nhất mà thế giới quan vũ trụ xung quanh chữ nhân chia ra làm hai hướng của tuệ linh trời và người. Một hướng là cải tạo thế giới quan trời người vũ trụ của các tuệ linh trời người; một hướng là phá hoại thế giới quan trời người của ngã quỷ.

Khi nói đến Tuệ là nói đến mức độ cải tạo được thế giới quan vũ trụ trời người của các tuệ linh đã và đang hóa thân dưới nhân gian, cùng dòng người Nhân mệnh cải tạo và duy trì sự sống của khắp vũ trụ thông qua việc tìm ra và vận hành Đạo. Do đó nói đến mức độ cải tạo của các tuệ linh trời người phải gắn liền với sự cải tạo tại cõi trần nhân sinh rồi lan tỏa ra khắp vũ trụ.

Khi nói đến ngã quỷ là nói đến những tuệ linh, linh hồn muông thú, dòng người Nhân mệnh do tâm ngã theo giả tướng mà hóa thành quỷ, họ đã và đang phá hoại sự sống khắp vũ trụ, phá hoại Đạo mà các tuệ linh tìm ra. Do đó nói đến mức độ phá hoại của ngã quỷ là phải gắn liền với cõi trần nhân sinh rồi lan tỏa ra khắp vũ trụ.

8.2.1. Mức độ phá hoại sự sống khắp vũ trụ của ngã quỷ

Mức độ phá hoại của dòng người Thiên ấn, Nhân mệnh và linh hồn của muông thú là phá hỏng và vi phạm luật nhân quả trong 4 biểu hiện hình tướng Đạo. Mức độ phá hoại đã diễn ra từ giai đoạn đầu tiên các tuệ linh xuống nhân gian tu hành, từ trong phạm vi cõi trần nhân sinh lan tỏa ra khắp vũ trụ. Mức độ phá hoại khác nhau bởi từ sự biến đổi đến hoại diệt cấu trúc mã sóng trí tuệ trong trụ linh sinh phát ra tầng năng lượng trong tâm, trong tuệ linh họ cũng khác nhau, và thông qua các tầng năng lượng đó mà ta nhận biết được, phân biệt được các cảnh giới của ngã quỷ.

a) Địa ngục của các dòng đạo

Những người Thiên ấn và Nhân mệnh khi sống trên nhân gian vi phạm luật nhân quả, gây ra nghiệp lực tổn thương đến vạn vật, muông thú và con người; khi chết đi sẽ được các ngài của từng dòng đạo bắt tuệ linh hoặc linh hồn về giam giữ trong các cửa ngục dưới sự quản lý của các dòng đạo khác nhau để cho họ bị phản chiếu nghiệp lực mà ảo tưởng đang bị các quỷ tra tấn hành hình. Khi họ thấu hiểu nghiệp mình tạo ra trên nhân gian và định tâm để sám tâm thì sẽ không còn phải đọa trong các cửa ngục đó nữa, họ sẽ được tu tập, luyện nguyên thần để chờ đầu thai làm người kiếp mới, hoặc đầu thai làm súc sinh để trả nợ nghiệp tiền kiếp gây ra. Trước khi chưa có dòng đạo Phật và Thiên chúa, đạo Hồi, những người tạo nghiệp sau khi chết sẽ được luân hồi để trả nghiệp ngay, họ không có quãng thời gian tu luyện dưỡng nguyên khí trước khi luân hồi, do nghiệp mà đọa thành súc sinh hay tiếp tục làm người.

Những người Thiên ấn hay Nhân mệnh do vi phạm luật nhân quả, phá hoại 4 biểu hiện hình tướng đạo, gây tổn thương cho con người và muông thú tại cõi trần nhân gian này, nhưng vẫn nằm trong sự kiểm soát của các ngài và Đấng tạo hóa.

Khi thiền định tham quan các tuệ linh, linh hồn bị giam giữ trong các cửa ngục sẽ thấy tầng năng lượng tỏa ra màu xám đen và ẩn bên trong là năng lượng màu đỏ máu.

b) Vong cô hồn

Vong cô hồn là những người dù là Thiên ấn hay Nhân mệnh, do khi sống tạo quá nhiều ác nghiệp mà chết do tai nạn hay bị giết, hoặc do kiếp trước tạo nhiều ác nghiệp mà kiếp này chết do chiến tranh hay bị giết chết, hoặc do tự tử. Khi chết sẽ không được các ngài đón về địa phủ hoặc cho chuyển sinh đầu thai trả nghiệp. Vì nghiệp quá nặng, nhất là không trân trọng mạng sống của mình mà tự tử, không trân trọng mạng sống người khác mà giết hại họ kiếp trước hay kiếp này mà khi chết ngoài việc bị giết lại còn phải bị đọa thành vong cô hồn để mà thấu hiểu khi không trân trọng sinh mạng của kiếp người.

Thiền định nhìn vào Tuệ linh hoặc Linh hồn đó sẽ thấy tầng năng lượng tỏa ra màu xám hoặc xám đen. Vì họ bị giết hay tự tử nên khi chết họ vẫn còn chấp và chưa định được tại sao họ chết nên sinh khởi năng lượng màu xám hoặc xám đen trong tuệ linh và linh hồn của họ.

c) Yêu tinh, yêu quái

 Yêu tinh hay còn gọi là yêu quái, đó là linh hồn của các con thú dữ khi sống hay săn mồi và ăn thịt các con thú khác: hổ, báo, cáo, chó, đại bàng, trăn, rắn… Khi sống thì giết hại và ăn thịt vô số, khi chết thì linh hồn của chúng tỏa ra tầng năng lượng màu đen.

Khi các con yêu tinh này nhìn và chứng kiến nhiều muông thú được thuần hóa chuyển sinh làm người, chúng cũng muốn được làm người, nhưng không muốn tuân theo luật luân hồi là phải được thuần hóa và tạo nhiều lợi ích giúp đỡ con người để có năng lượng dương khí mà được chuyển sinh làm người. Bởi để được làm người thì linh hồn muông thú phải có được năng lượng dương, đó là nguyên thần nguyên khí để duy trì sự sống một kiếp người, năng lượng dương chỉ được sinh khởi khi làm nhiều việc thiện và giúp đỡ vạn vật trời người. Do bản chất của thú dữ là giết hại nên linh hồn chúng thường đi tìm những người tạo nghiệp nặng ở các kiếp trước để nhập vào lấy nguyên thần của họ để tăng năng lượng dương trong linh hồn của chúng, bởi những người tạo nghiệp kiếp trước sẽ tỏa ra tầng năng lượng màu đen trong tâm, do trùng hợp với tầng năng lượng của yêu tinh nên nó dễ dàng nhập vào và giết hại những người đã tạo nghiệp kiếp trước. Chúng rất thích giết hại và lấy nguyên thần của những người Thiên ấn vì dòng người này có tầng năng lượng rất mạnh, sẽ giúp chúng nhanh chóng chuyển sinh làm người mà không phải tuân thủ luật luân hồi.

Những con yêu tinh khi đầu thai trộm thành công và lớn lên, chúng sẽ giết người hàng loạt, chúng sẽ làm thầy pháp, thầy phù thủy, thầy tu để tiếp tục tu luyện pháp tà và hấp thụ năng lượng của dòng người Thiên ấn, vì dòng người thiên ân có tầng năng lượng rất mạnh. Khi những người này chết, những con yêu tinh sẽ chạy trốn sự kiểm soát của các ngài để tiếp tục đầu thai trộm làm người hoặc chúng giả danh các vị thánh nhân, thần phật để dẫn dụ và hại dân chúng.

Khi những con yêu tinh đầu thai làm đạo sĩ, thầy tu, thầy pháp, thầy phù thủy, chúng sẽ được cõi trời của quỷ truyền dạy cho pháp, và sẽ làm tay sai của quỷ để phá hoại các tín ngưỡng thờ thần thánh, phá hoại các tôn giáo dưới nhân gian, chúng dẫn dắt con người đi vào u mê của mê tín dị đoan. Sau khi chúng chết, chúng được gọi là Tinh chủ, chúng sẽ giết hại vô số người vì chúng có sức mạnh khủng khiếp hơn các yêu tinh chưa được đầu thai làm người tu luyện đạo pháp.

Khi thiền định sẽ thấy yêu tinh chưa đầu thai trộm làm người có hình hài như muông thú và tỏa ra khí đen, còn Tinh chủ sẽ hiện ra cả hình hài người thầy tu hay thầy pháp và lại hóa thành hình hài con thú và tỏa ra khí đen khi bị niêm phong bằng tâm pháp.

d) Quỷ

Quỷ chính là các tuệ linh ở cõi trời của Đấng tạo hóa, hóa thân xuống nhân gian tu hành, khi tương tác với thiên địa nhân, bốn hướng đông tây nam bắc, quá khứ hiện tại vị lai, với 4 biểu hiện hình tướng Đạo, trí tuệ họ định vào, ngã vào để chiếm lấy, vơ vét lấy giả tướng về mình mà tâm họ chuyển thành ngã quỷ. Khi đó họ hành động vi phạm luật nhân quả, gây tổn thương cho vạn vật muông thú và trời người, họ chống đối lại luật nhân quả của đấng tạo hóa. Khi họ đang sinh sống kiếp người thì họ định vào trí tuệ mà chỉnh sửa giáo lý kinh sách trong tôn giáo, hành nghề mê tín dị đoan, làm giàu phi pháp, mua quan bán chức, gây ra chiến tranh… làm cho giá trị đạo đức nhân văn của con người bị tha hóa. Trải qua nhiều kiếp tu hành tạo nhiều nghiệp lực nên khi chết, tuệ linh họ trốn chạy sự quản lý giáo hóa của các ngài và Đấng tạo hóa, chúng cùng nhau lập ra một cõi trời riêng, đó là cõi trời của quỷ để biến hóa ra các cảnh hưởng thụ trụy lạc, nghiên cứu các phương pháp phá lại các dòng đạo, các tín ngưỡng dưới dân gian, dẫn dụ con người tha hóa về đạo đức. Sau đó chúng biến hóa diện tướng của chúng thành phật, thần thánh và lừa người dân để người dân u mê lễ bái chúng để xin công danh tài lộc, xin giải hạn.

Khi thiền định sẽ thấy tầng năng lượng trong quỷ màu đỏ máu và tỏa ra cả khí đen. Từ cõi trời của quỷ, chúng điều hành và truyền những năng lượng thông tin làm cho người tu hành, con người bị hoang mang, bị chấp ngã mà làm theo những điều chúng điều hành. Chúng truyền dạy pháp cho những người tu hành, những người thầy pháp, thầy cúng, thầy phù thủy để những người này làm tay sai phá hoại nhân loại cho chúng.

Quỷ cũng hóa thân xuống để thăng tiến trong quan trường nhằm tạo ra các cuộc chiến tranh, chúng hóa thân xuống thành người tu hành có chức sắc để phá các dòng đạo, chúng hóa thân xuống nhiều để xây dựng và vận hành các cảnh sống suy thoái về đạo đức, vận hành mê tín dị đoan mà khiến cho con người quên đi mình là ai, sứ mệnh của mình làm gì dưới nhân gian.

Trong cõi quỷ thì có quỷ chúa, hay còn gọi là ma vương, quỷ chúa thống lãnh toàn bộ cõi quỷ, thu phục tinh tà và truyền pháp cho tinh tà, khống chế các vong cô hồn làm âm binh cho tinh tà. Đặc biệt ở dưới nhân gian thì chúng biến hóa thành các vị thánh thần, phật mà truyền pháp cho người tu hành trong các dòng đạo, trong các tín ngưỡng khi họ tham lam về pháp và tài lộc cũng như công danh, để biến họ tạo nghiệp và hóa thành quỷ mới. Chúng truyền dạy pháp cho yêu tinh đã hóa thân thành người để làm đạo sĩ, thầy tu, thầy pháp để khống chế yêu tinh khác và cô hồn làm âm binh để phá hoại giá trí đạo đức nhân văn và sự sống của con người. Chúng dẫn dụ cho nhiều tuệ linh tạo nghiệp lực để rồi chúng bắt họ về làm quỷ mới. Chúng dùng tầng năng lượng sóng điện âm của chúng để đi phá hủy sự sống ở khắp các cõi trời, gây nguy hiểm đến sự sống ở khắp các cõi trời trong vũ trụ. Tuy nhiên tất cả quỷ và cõi quỷ đều được sự điều tiết, khống chế vận hành bởi 5 sứ giả của Đấng tạo hóa để dùng họ làm môi trường lý tưởng cho các bậc giác ngộ xuất hiện nơi nhân gian.

8.2.2. Mức độ cải tạo được của các tuệ

Các tuệ linh và linh hồn khi hóa thân thành người tu hành cùng nhau, trải qua thời gian có thêm hóa thân của quỷ, yêu tinh cùng sống và tu hành cùng, tạo thành sự hỗn độn về cuộc sống cũng như sự khắc nghiệt của hành trình tu hành cải tạo tuệ linh có được bộ lọc năng lượng và cải tạo sự sống khắp vũ trụ. Mức độ cải tạo được gắn liền từ những giai đoạn đầu nhân loại được hình thành cho đến nay với vô số những tuệ linh đạt được các mức độ cải tạo khác nhau. Mức độ cải tạo dựa theo dòng người Thiên ấn hay Nhân mệnh, từ cõi trần nhân gian lan tỏa ra khắp vũ trụ.

1.    Ban giám sát hộ thần

Ban giám sát hộ thần là các thần linh, thổ địa, táo quân, sơn thần, thần tài, thủy thần, các linh vật. Ban giám sát hộ thần có một cõi trời riêng, được Đấng tạo hóa lập ra để cho họ an trụ và hấp thụ các tầng năng lượng tốt hơn.

Nguồn gốc của ban giám sát hộ thần chính là muông thú được thuần hóa từ thú dữ thành thú lành và có công giúp đỡ con người, sau đó được chuyển sinh làm người trong nhiều kiếp. Khi được làm người trong nhiều kiếp, họ sống tốt, không hại người, luôn hành thiện giúp đỡ nhau và giúp đỡ muông thú, do đó mà Đấng tạo hóa cho họ được chuyển sinh làm thần sau khi họ thoát tục dưới cõi trần nhân sinh này.

Các chư thần trong ban giám sát hộ thần do được chuyển sinh từ dòng Nhân mệnh nên tầng năng lượng của họ vẫn còn thấp, không thể so sánh với dòng người Thiên ấn và các tuệ linh từ các cõi trời khác xuống nhân gian tu hành. Do đó họ chỉ hơn con người là không phải tồn tại an trụ trong thân tướng như con người, họ cũng được gọi là tuệ linh mới được chuyển sinh.

Khi được sinh về cõi ban giám sát hộ thần để thành chư thần, họ tiếp tục sứ mệnh xuống nhân gian cai quản âm đất đai, núi đồi, sông biển… để giúp đỡ con người tu hành dưới nhân gian, để bảo vệ nhà cửa cho con người tránh bị âm binh cô hồn đến phá hoại. Vì pháp lực yếu nên họ không thể chống chọi lại với yêu tinh và quỷ.

Tầng năng lượng trong tuệ linh ban giám sát hộ thần là màu trắng trong, màu trắng. Đó là năng lượng của sự giúp đỡ nhân loại.

Ban giám sát hộ thần sau quá trình giúp đỡ con người bằng thể tuệ linh thì sẽ tiếp tục được hóa thân luân hồi đầu thai làm người để tu hành đạt được các tầng năng lượng cao hơn và dần dần cải tạo tuệ linh có bộ lọc năng lượng.

b) Hàng tiên

Hàng tiên là những tiên nam, tiên nữ bay lượn trên một cõi trời riêng, họ bay lượn trên mây, họ múa, họ đàn ca tạo ra sự hòa vang và an lạc với những âm thanh và điệu múa.

Hàng tiên là những tuệ linh được hình thành từ những phôi năng lượng âm dương mà do Đấng tạo hoa gieo ra ở một cõi trời có các tầng và dòng năng lượng cao hơn cõi trần nhân sinh và nó tương đồng với cõi trời của ban giám sát hộ thần. Do đó pháp lực trong tầng năng lượng của họ cũng tương đương với ban giám sát hộ thần.

Thiền định thấy trong tuệ linh của hàng tiên có tầng năng lượng màu trong suốt.

Hàng tiên hóa thân xuống nhân gian làm người, lớn lên hầu như họ trở thành những người giỏi về vũ công, âm nhạc, sáng tác, người đẹp để mang lại niềm vui và giúp cho nhân loại tiêu diệt đi những căng thẳng khó khăn trong cuộc sống. Như vậy mức độ cải tạo của họ là mang lại niềm vui và tinh thần cho nhân loại. Họ sẽ phải luân hồi tu hành trong nhiều kiếp để vượt qua khổ đau kiếp nạn mà cải tạo trụ linh của tuệ linh.

c) Hàng Tuệ linh cõi trời vị Tuệ linh đầu tiên (Đấng tạo hóa, a di di đà)

Đó là các tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất, họ xuống nhân gian tu hành chỉ để làm nhiệm vụ là mang các công trình họ nghiên cứu được xuống để xây dựng và giúp nhân loại phát triển, làm cho môi trường tu hành dưới nhân gian được tốt đẹp hơn. Khi họ nghiên cứu ra các phương pháp hay công trình nào đó có lợi ích cho người tu hành dưới nhân gian hoặc các công trình giúp cải tạo và phát triển sự sống dưới nhân gian thì họ phải luân hồi đầu thai xuống làm người để mà truyền lại công trình đó cho nhân loại. Những tuệ linh này khi hoàn thành xong kiếp người là họ về, khi cần thì họ lại xuống nhân gian để giúp nhân loại.

Thiền định thấy tầng năng lượng trong tuệ linh họ phát ra màu trắng bạc tỏa hào quang, đó là tầng năng lượng sóng điện dương bởi sự giúp đỡ nhân loại mà đã sinh khởi trong tuệ linh của họ. Tầng năng lượng của họ cao và lớn hơn nhiều so với hàng tiên và ban giám sát hộ thần, vì họ sinh ra ở cõi trời nhiệm màu nhất về năng lượng nên pháp lực của họ rất mạnh.

Mức độ cải tạo của họ gắn với sự tiến bộ của nhân loại, gắn với các công trình mang lại lợi ích cho nhân loại: nền nông nghiệp, thâm canh, chăn nuôi, công nghiệp, cơ khí, toán học, vật lý, hóa học, sinh học, thiên văn học, vũ trụ…

d) Hàng Thánh nhân

Thánh nhân là những người có thật gắn liền với lịch sử của các quốc gia dưới nhân gian, họ có công xây dựng và bảo vệ dân tộc, quốc gia mà họ sinh ra mà đắc phẩm vị thánh nhân. Mỗi quốc gia đều có hàng thánh nhân riêng, các hàng thánh này cùng an trụ tại một cõi trời rộng lớn, và các hàng thánh dưới sự cai quản và quản lý của vua trời. Vua trời cai quản các hàng thánh của tất cả các quốc gia, cai quản hàng tiên, cai quản ban giám sát hộ thần. Vua trời có trách nhiệm giữ trật tự và ổn định giữa các hàng thánh của các quốc gia để tránh xảy ra xung đột chiến tranh giữa các quốc gia dưới nhân gian. Khi có chiến tranh giữa các quốc gia dưới nhân gian thì vua trời cùng với hàng thánh họp bàn và chọn lựa vị thánh nhân nào đó hóa thân xuống nhân gian để ngăn chặn chiến tranh hoặc giữ hòa bình giữa các quốc gia hoặc chấm dứt chiến tranh.

Cội nguồn của các vị thánh nhân đều là những tuệ linh từ cõi trời vị Tuệ linh đầu tiên xuống nhân gian tu hành cải tạo trụ linh của tuệ linh. Khi tu hành dưới nhân gian và cải tạo được thế giới quan ở phạm vi quốc gia dân tộc họ sinh sống sẽ đắc được quả vị thánh nhân. Khi đắc được quả vị thánh nhân thì họ sẽ được Đấng tạo hóa lập ra một cõi trời riêng và đưa họ về đó dùng năng lượng mà họ đã giúp đỡ nhân dân quốc gia họ để xây dựng và cải tạo sự sống ở cõi trời mới. Như vậy sau khi đắc đạo bậc thánh nhân thì họ được Đấng tạo hóa tạo ra sự sống ở một cõi trời và đưa họ về đó tu hành và họ được dân chúng quốc gia mà họ thành đạo bậc thánh nhân ở dưới nhân gian tôn thờ mà tạo thành tín ngưỡng của các quốc gia khác nhau. Họ tiếp tục tiến trình luân hồi xuống nhân gian tu hành để vượt qua hết tất cả các kiếp nạn khổ đau mà cải tạo trụ linh của tuệ linh thành bộ lọc năng lượng và tiếp tục duy trì cải tạo sự sống ở cõi trời của họ và khắp vũ trụ.

Mức độ cải tạo để đắc quả vị Thánh nhân: để đắc đạo bậc thánh nhân thì người tu hành phải đạt được các điều kiện đắc quả vị và mức độ cải tạo của họ khi họ luân hồi dưới nhân gian, dựa trên mức độ đó mà Đấng tạo hóa sắc phong phẩm vị quả vị cho họ:

-    Hành giả phải giác ngộ được khổ đau do quy luật tự nhiên, đó là giác ngộ được sinh – lão – bệnh – tử–sinh ly – tử biệt. Không màng và chấp nhận hi sinh thân xác để xây dựng, bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước, bảo vệ sự hòa bình, bảo vệ sự ấm no, bảo vệ cho dân chúng ở quốc gia họ đang sinh sống.

-    Tuy nhiên họ chưa giác ngộ được khổ đau tại tâm, trong tâm họ vẫn còn chấp vào hình tướng là quốc gia dân tộc, họ chỉ lo lắng cho quốc gia dân tộc họ, họ vẫn còn phải vì dân tộc họ mà cầm binh đao ra chiến trận để tiêu diệt quân thù, cho nên họ chỉ được phong làm bậc thánh nhân ở phạm vi quốc gia dân tộc họ sinh sống. Họ vẫn chưa thấu hiểu chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ, họ chỉ vì tình yêu thương dân tộc mà hành đạo cứu dân tộc họ nên đắc quả vị.

-    Sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh phải được cộng đồng dân chúng ở quốc gia đó hay dân tộc đó ca ngợi công ơn, hoặc được dân chúng thờ phụng ở khắp nơi.

Thiền định kiểm tra tầng năng lượng trong tuệ linh bậc thánh nhân sẽ thấy năng lượng màu tím, màu xanh, màu hồng. Tầng năng lượng của họ mạnh hơn hàng tuệ linh cõi trời vị Tuệ linh đầu tiên vì họ có sự giác ngộ hơn và có chân tu dưới nhân gian trong nhiều kiếp. Tầng năng lượng màu xanh, màu hồng, màu tím là vẫn còn chấp ngã về dân tộc nên họ vẫn phải tiếp tục luân hồi tu hành để trả nghiệp lực cũng như vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau trên tiến trình cải tạo trụ linh của tuệ linh.

e) Hàng Bồ tát Đạo Phật (tương đương hàng thánh thần Đạo Thiên chúa)

Họ là dòng người Thiên ấn, con đường tu hành và hành đạo cải tạo thế giới quan có gắn liền với lịch sử, họ được biết đến bởi lịch sử hoặc không được biết đến bởi sự hành đạo âm thầm. Họ là những người giàu có, họ chuyển hóa sự giàu có của họ thành việc đi cứu giúp dân chúng khắp các vùng hoặc dân chúng khắp nơi trên thế giới vượt qua nghèo đói và dịch bệnh hoặc thiên tai, họ là những người đi hành thiện cứu người, họ là những bậc tu hành, những bậc lương y đi cứu giúp người trong hoạn nạn…đó là cứu độ. Hàng Bồ tát của đạo phật hay hàng thánh thần của đạo thiên chúa không chịu sự quản lý của vua trời, họ chịu sự quản lý của sư tổ dòng đạo của họ và Đấng tạo hóa.

Cội nguồn của hàng Bồ tát của đạo phật hoặc hàng thánh thần của đạo thiên chúa đều là những tuệ linh từ cõi trời vị Tuệ linh đầu tiên xuống nhân gian tu hành cải tạo trụ linh của tuệ linh. Khi tu hành dưới nhân gian và cải tạo được thế giới quan ở phạm vi vượt qua biên giới quốc gia dân tộc. Khi đắc được quả vị hàng Bồ tát của đạo phật hoặc hàng thánh thần của đạo thiên chúa thì họ sẽ được Đấng tạo hóa và sư tổ của dòng đạo họ sắc phong phẩm vị quả vị và họ được trở về cõi trời của dòng đạo họ. Tại cõi trời đó, họ dùng năng lượng của tâm từ bi yêu thương giúp đỡ chúng sinh đã có được khi hành đạo dưới nhân gian để tạo ra, duy trì phát triển sự sống khắp các cõi trời và tiếp tục độ cho chúng sinh dưới nhân gian. Có nhiều người dưới nhân gian biết được danh hiệu của họ mà trì tụng hay tôn thờ họ. Vì các tuệ linh này vẫn chưa cải tạo thành công trụ linh thành bộ lọc năng lượng nên vẫn phải tiếp tục luân hồi xuống nhân gian để trải qua hết tất cả các kiếp nạn khổ đau trong tiến trình tu hành dưới nhân gian.

Mức độ cải tạo để đắc quả vị hàng Bồ tát của đạo phật hoặc hàng thánh thần của đạo thiên chúa: để đắc quả vị hàng Bồ tát của đạo phật hoặc hàng thánh thần của đạo thiên chúa thì người tu hành phải đạt được các điều kiện đắc quả vị và mức độ cải tạo của họ khi họ luân hồi dưới nhân gian, dựa trên mức độ đó mà Đấng tạo hóa và sư tổ dòng đạo của họ tu hành theo sắc phong phẩm vị quả vị cho họ:

-    Hành giả phải giác ngộ giải thoát khổ đau theo quy luật tự nhiên và giác ngộ khổ đau tại tâm. Không phân biệt dân tộc, quốc gia, vùng miền, chúng sinh, muông thú mà sẵn sàng hi sinh thân xác để cứu độ đến tất cả chúng sinh và muông thú.

-    Tuy nhiên tâm vẫn còn chấp là: khi chúng sinh kêu cứu thì mới cứu, chúng sinh không kêu cứu thì không cứu. Mức độ cứu độ của hàng bồ tát là có hạn, số lượng hạn chế bởi những người kêu cứu và tầng năng lượng của hàng bồ tát còn hạn chế. Sự hạn chế này là do chưa có được sự thấu hiểu sâu về chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ nên tâm vẫn còn chấp và cảm thọ vào nỗi đau và nỗi khổ của chúng sinh mà chưa thuyết pháp phổ độ chúng sinh như Phật.

Thiền định kiểm tra tầng năng lượng trong tuệ linh của hàng bồ tát thì thấy hào quang tỏa ra màu trắng có màu vàng nhạt, màu trắng là của chân tâm, màu vàng nhạt của của sự cứu người có kèm theo thuyết nhân quả giác ngộ cho chúng sinh. Tầng năng lượng của hàng thánh thần bên đạo thiên chúa thì có màu trắng tỏa hào quang.

f) Hàng Phật và Chúa Jesu

Họ là dòng người Thiên ấn, con đường tu hành và hành đạo cải tạo thế giới quan có gắn liền với lịch sử, họ được biết đến bởi họ là những người đã để lại giá trị tư tưởng đạo đức, tư tưởng giác ngộ giải thoát khổ đau khắp nhân gian. Họ là những nhân vật lịch sử như Đức Phật Thích Ca và các vị đại đệ tử của ngài, Chúa Jesu. Khi họ còn sống và hành đạo, họ đi truyền giáo, thuyết pháp cho chúng sinh khắp nơi trên thế giới thấu hiểu nhân quả, chân lý vạn vật và dẫn dắt dân chúng khắp thế giới rời xa nghiệp và hành thiện, đó là đi Phổ độ chúng sinh. Hàng Phật và chúa Jesu là ở trên tất cả các hàng và đứng dưới Đấng tạo hóa (vị Tuệ linh đầu tiên).

Cội nguồn của hàng Phật hay chúa Jesu đều là những tuệ linh từ cõi trời vị Tuệ linh đầu tiên xuống nhân gian tu hành cải tạo trụ linh của tuệ linh. Khi tu hành dưới nhân gian và cải tạo được thế giới quan ở phạm vi vượt qua biên giới quốc gia dân tộc, vượt qua hết hoặc gần hết các kiếp nạn khổ đau mà đắc phẩm vị quả Phật. Khi đắc được quả vị Phật hoặc như chúa Jesu thì họ sẽ được Đấng tạo hóa sắc phong phẩm vị quả vị và họ được trở về cõi trời của dòng đạo họ cùng sư tổ khai sinh ra dòng đạo. Tại cõi trời đó, họ dùng năng lượng của tâm từ bi yêu thương giúp đỡ chúng sinh đã có được khi hành đạo dưới nhân gian để tạo ra, duy trì phát triển sự sống khắp vũ trụ trời người và tiếp tục độ cho chúng sinh dưới nhân gian. Có nhiều người dưới nhân gian biết được danh hiệu của họ mà trì tụng hay tôn thờ họ. Nếu trụ linh trong tuệ linh của họ chưa đắc được bộ lọc năng lượng thì họ sẽ tiếp tục luân hồi xuống nhân gian để vượt qua nốt các kiếp nạn khổ đau và chuyển hóa trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

Mức độ cải tạo để đắc quả vị hàng Phật và chúa Jesu: để đắc quả vi hàng Phật và chúa Jesu thì người tu hành phải đạt được các điều kiện đắc quả vị và mức độ cải tạo của họ khi họ luân hồi dưới nhân gian, dựa trên mức độ đó mà Đấng tạo hóa và sư tổ dòng đạo của họ tu hành theo sắc phong phẩm vị quả vị cho họ:

-    Hành giả phải giác ngộ giải thoát khổ đau theo quy luật tự nhiên và giác ngộ khổ đau tại tâm. Không phân biệt dân tộc, quốc gia, vùng miền, chúng sinh, muông thú và trời người mà sẵn sàng hi sinh thân xác để phổ độ thuyết pháp về chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ, cứu độ đến tất cả chúng sinh và muông thú trời người.

-    Phải thấu hiểu chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ nên họ không còn phân biệt ai kêu khổ hay ai không kêu khổ. Họ hiểu tất cả trời người đều là khổ nên họ chạy đua với thời gian, hi sinh thân xác để đi phổ độ theo sứ mệnh của Phật, cứu độ của hàng bồ tát và hàng thánh nhân. Tâm đã diệt hết chấp ngã nên tâm không bị chìm theo cảm thọ khổ đau của chúng sinh như hàng bồ tát.

Thiền định kiểm tra tầng năng lượng trong tuệ linh của hàng Phật và chúa Jesu sẽ thấy tỏa ra năng lượng hào quang màu vàng rực rỡ. Đó là năng lượng của tâm từ bi, năng lượng của hành đạo thuyết pháp cho chúng sinh thấy sự thật của chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ nên trong tâm – tuệ họ sinh khởi năng lượng của sự thật là màu vàng.

g) Quả vị Quả Không

Quả vị Quả không chính là quả vị cao nhất, không còn quả vị nào cao hơn, đó chính là bộ lọc năng lượng trong trụ linh của tuệ linh. Bộ lọc năng lượng là sự hấp thụ khổ đau, nghiệp lực, năng lượng xấu của vũ trụ trời người, năng lượng hoại diệt. Thông qua sự vận hành của chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ để chuyển hóa thành siêu năng lượng màu vàng, siêu năng lượng xanh ngọc lưu ly, hạt bóng hỏa để duy trì, phát triển bền vững tất cả các dạng sống của trong và ngoài vũ trụ, trời và người.

Quả vị Quả Không có hai Tuệ linh đạt được: đó là Đấng tạo hóa (vị Tuệ linh đầu tiên, ngài a di di đà), ngài là người cha vĩ đại của cả trời người trong vũ trụ, ngài chính là vị đã thấu hiểu và hoàn thiện chân lý vạn vật, luật nhân quả để vận hành cải tạo sự sống vạn vật vũ trụ. Tuệ linh của Đức Phật Thích Ca là người đầu tiên tìm ra và thấu chân lý vạn vật ở nhân gian sau nhiều kiếp tu hành và lại giác ngộ được thêm chân lý giác ngộ để chuyển hóa năng lượng. Khi ngài giác ngộ được hai chân lý và vận hành để đi hành đạo hóa độ, phổ độ, cứu độ chúng sinh, ngài được trời người sắc phong ngài là Thầy của trời người. Hai ngài hợp nhất thành danh hiệu mới là “Đức Ngũ Âm Hóa Đồng” với ý nghĩa là dẫn dắt chúng sinh toàn bộ vũ trụ đắc Quả Không.

Đấng tạo hóa gieo duyên và vận hành chuyển hóa ra vạn vật, hay nói cách khác thì vạn vật chính là ngài, luật nhân quả là ngài và ngài chính là luật nhân quả. Tuệ Đức Phật Thích Ca là vị chuyển hóa ra các siêu năng lượng để tỏa ra vũ trụ, cân bằng, duy trì và phát triển tất cả các sự sống trong và ngoài vũ trụ trở nên bền vững.

Như vậy điều kiện để đắc quả vị Không là hành giả ở dưới nhân gian phải thấu hiểu triệt để chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ thông qua tất cả các khổ đau kiếp nạn. Sau đó vận hành hai chân lý đó bằng cách đi cứu độ, phổ độ, hóa độ toàn bộ chúng sinh trời người bằng chân tâm. Đó là con đường cải tạo trụ linh viên mãn, là bất tử của tuệ linh, là Đạo viên mãn, là Hoàn đạo.

Thiền kiểm tra tầng năng lượng trong vị Tuệ linh đầu tiên sẽ thấy hào quang ngũ sắc của năm nhóm tầng năng lượng. Đó là năm nhóm năng lượng tạo ra vũ trụ trời người. Tuệ linh Đức Phật Thích Ca sẽ tỏa ra siêu năng lượng màu vàng, siêu năng lượng xanh ngọc lưu lý, hạt bóng hỏa. Đó là ánh sáng sự thật của hai chân lý.

h) So sánh mức độ cải tạo của từng quả vị

Ta hãy hình dung cõi trần nhân sinh là một dòng sông mê lầm, đầy rẫy cá sấu, và thủy quái nguy hiểm giết hại chúng sinh. Để vượt qua hành trình tu hành trong nhiều đời nhiều kiếp và vượt qua hết kiếp nạn khổ đau, cũng như chúng sinh phải vượt qua được dòng sông mê lầm đầy rẫy thủy quái và cá sấu, mỗi một kiếp người và trải qua một vài khổ đau kiếp nạn chính là một lần vượt qua sông. Người tu hành phải vượt qua nhiều lần dòng sông mê tương tự trải qua nhiều kiếp tu hành cho đến khi hoàn thành việc thấu hiểu hai chân lý và vượt qua được hết các kiếp nạn khổ đau để chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng trong trụ linh của tuệ linh mới hoàn thành xong. Hình ảnh vượt qua dòng sông mê của chúng sinh như sau:

-    Những người bơi qua sông mà không cần phương tiện gì, họ thích bơi dưới dòng nước để hưởng thụ dòng nước mát, dòng nước mát chính là giả tướng mà họ muốn được thụ hưởng mà không biết dưới dòng sông nước mát đó là thủy quái và cá sấu, kết quả họ bị chết giữa dòng sông. Đây là những người u mê không tin thiên địa nhân, không tin nhân quả nên tham sân si mà đọa trong dòng sông mê.

-    Những người bơi qua sông bằng thuyền nhỏ: đó là hàng thánh nhân, họ bơi qua sông bằng thuyền nhỏ thì họ không những giúp họ qua sông mà còn cứu giúp được những người đang kêu cứu dưới dòng sông, nhưng do thuyền nhỏ nên họ chỉ cứu được ít ỏi, họ vẫn nguy cơ bị đắm thuyền. Do đó cứu độ của bậc thánh nhân chỉ trong phạm vi nhỏ, đó là dân tộc họ.

-    Những người bơi qua sông bằng thuyền lớn: đó là hàng Bồ tát và thánh thần, họ bơi qua sông bằng thuyền lớn vừa an toàn cho chính họ và cứu giúp được nhiều người kêu cứu dưới sông, do thuyền lớn nên họ cứu được nhiều người, nhưng không cứu hết được. Do đó cứu độ của hàng bồ tát và thánh thần vẫn còn có hạn.

-    Những người xây những cây cầu bắc qua sông: đó là hàng Phật và Chúa jesu, họ chịu khổ đau vất vả để xây nhiều cây cầu, giúp cho chúng sinh vượt qua sông mà không phải bơi qua sông, họ giúp cho vô số người qua được sông, giúp cho họ qua được nhiều đời nhiều kiếp, khi trên cầu họ nhìn xuống sông và thấu hiểu nhân quả, khổ đau kiếp nạn. Do có những cây cầu nên chúng sinh an lạc và nhanh chóng đi qua vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau bên dưới dòng sông. Đó là Phổ độ của hàng Phật và Chúa jesu, nó có tính lan tỏa và dẫn dắt được vô số chúng sinh, đó mới là cứu độ chúng sinh thật sự.

-    Mặt trời chiếu sáng rực rỡ: đó là Quả Không, đó là ánh sáng của hai chân lý chiếu sáng, xua tan màn đêm tối u mê hiểm nguy, soi sáng cho những người xây cầu bắc qua sông, soi sáng cho những người dùng thuyền chở người qua sông, soi sáng cho những người tự bơi qua sống. Mặt trời ánh sáng của hai chân lý soi thấu giả tướng của màn đêm u mê và nghiệp lực cho chúng sinh thấu hiểu vạn vật trời người, là đích đến và soi sáng cho tất cả chúng sinh nương theo các phương tiện để đến với đích cuối cùng, đó chính là ánh sáng của hai chân lý như mặt trời. Đây gọi là Hóa độ. Hóa độ bao gồm cả cứu độ của hàng thánh nhân, bao gồm cả cứu độ của hàng bồ tát, bao gồm cả phổ độ của hàng phật, và đặc biệt Hóa độ chính là mặt trời chiếu sáng vạn vật trời người, thay đổi bóng tối của nghiệp lực u mê thành giác ngộ như ban ngày.

Như vậy thông qua bản chất của tuệ, thông qua thiền định và phương pháp kiểm tra, chúng ta có thể kiểm tra được quỷ, tinh chủ, yêu tinh, cô hồn, thần, thánh, bồ tát, phật, quả không. Bởi các tầng năng lượng trong chính họ phát ra, và thông qua các tầng năng lượng đó ta sẽ biết những người nào là hóa thân của Phật, bồ tát, thánh, thần, quỷ, tinh tà. Thông qua thiền và phương pháp kiểm tra mà ta nhận biết được các thế lực quỷ, tinh tà đang an trụ trong cảnh chùa, đền thờ, trong tín ngưỡng văn hóa, nhập trong người, an trụ trong điền thổ, để từ đó mà có phương pháp hóa độ và hóa giải bằng bộ lọc năng lượng trong trụ linh.

8.3. Chân lý vạn vật – Vô (Duyên)

Chân lý vạn vật là: “Vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ không tự sinh ra, không tự mất đi, khổ đau không tự đến, khổ đau không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả”.

Như vậy ứng dụng chân lý vạn vật trong Tuệ sẽ là: “Tuệ không tự sinh ra, không tự mất đi, khổ đau không tự đến và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả”.

Chân lý vạn vật chính là luật nhân quả, chính là chữ Vô, Vô là tướng không, vì nó không bất tử, vì nó không vĩnh cửu, vì nó không trường tồn, nó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó chân lý vạn vật, luật nhân quả được đúc kết thành chữ duyên, duyên chính là tướng không, không có cái gì là của ta, thân xác ta cũng không phải của ta, mọi giả tướng không của ta, không của ai đó và bản thân giả tướng cũng không phải của chính nó. Thấu hiểu chữ duyên thì ta sẽ thấu hiểu được căn nguyên của sự hình thành quỷ, yêu tinh, cô hồn, địa ngục, thánh thần, bồ tát, phật, quả không. Các phẩm vị đó không tự nhiên sinh ra hay tự nhiên có, và các phẩm vị đó cũng không tự nhiên mất đi, mà là do gieo duyên sinh khởi và chuyển hóa.

8.3.1. Căn nguyên mà đọa thành Ngã quỷ

Khởi đầu của các tuệ linh khi xuống tu hành dưới nhân gian là chân tâm ban đầu, nhưng khi tương tác với hình tướng đạo mà vi phạm nhân quả để rồi chuyển hóa thành ngã quỷ.

Khi người tu hành hay bất cứ tuệ linh ở cõi trời nào mà trí tuệ định vào giả tướng để vơ vét, hút lấy, bám vào để lợi ích ích kỷ cho thân tướng mà làm cho trí tuệ u mê. Khi trí tuệ u mê sẽ không thấu hiểu sự thật trời người, sự thật mình là ai, sứ mệnh của mình ở dưới nhân gian, trí tuệ của họ cứ luẩn quẩn chăm sóc bồi đắp cho thân tướng được thụ hưởng các giả tưởng. Khi trí tuệ u mê sẽ dẫn đến tâm bị bí bách luẩn quẩn khổ đau vì không dẫn dắt trí tuệ thấu được sự thật, luật nhân quả và chân lý vạn vật để hành đạo, giúp đỡ tuệ linh hoàn thành con đường tu hành cải tạo trụ linh. Lúc đó trí tuệ dẫn dắt thân tướng tạo nghiệp lực, nghiệp lực tạo thành dòng năng lượng màu đen và màu đỏ máu truyền vào trong tâm, tuệ linh bị hấp thụ mà chuyển hóa thành quỷ, thành cô hồn, muông thú thì chuyển hóa thành yêu tinh. Khi họ là Ngã quỷ thì trí tuệ của tuệ linh họ u mê mà đi phá hoại sự sống của trời người, dẫn đến một ngày khi mà năng lượng hoại diệt đồng hóa và làm trụ linh bị vỡ thì họ sẽ hoại diệt. Đây cũng là nguyên nhân tại sao quỷ, tinh lại luôn đi lấy dương khí của người Thiên ấn đang tu hành dưới nhân gian, vì họ cũng hiểu được sự hoại diệt của họ. Họ không chịu hành đạo bằng việc thấu hiểu kiếp nạn khổ đau để chuyển hóa thành năng lượng dương thông qua hai chân lý, nên họ chọn con đường lấy nguyên thần của các tuệ linh khác để duy trì sự tồn tại của họ. Như vậy sự ích kỷ cá nhân mà gây tổn thương trời người là bản chất, là căn nguyên của Ngã quỷ.

Căn nguyên tận cùng là trụ linh của họ được hợp lại từ hai hạt năng lượng ban đầu. Do hạt năng lượng có sóng điện âm mạnh nên nó như là gen di truyền cho các tuệ xuống nhân gian để trí tuệ định và tham vào giả tướng, để rồi hóa thành quỷ. Khi trụ linh có sóng điện âm mạnh sẽ kích thích năng lượng hoại diệt đi vào đồng hóa họ và họ sẽ trở nên mất kiểm soát bởi sóng điện âm dương bị vỡ cấu trúc, nên họ lại càng nhanh đọa thành ngã quỷ và hoại diệt.

Họ đọa thành ngã quỷ, u mê trong cảnh ngã quỷ là do duyên, do duyên mà đọa thành, duyên ở đây chính là do cấu trúc sóng trí tuệ trong trụ linh bị đa âm, do trí tuệ u mê. Và cũng sẽ do duyên để giúp họ chuyển hóa mà thành tuệ cải tạo được thế giới quan vũ trụ.

8.3.2. Căn nguyên đạt được các mức độ cải tạo của tuệ

Để các ngã quỷ diệt được tính quỷ, diệt đi bản chất của quỷ để trở về chân tâm thì họ cần được những hành giả dùng chân tâm gieo duyên giúp họ diệt được trí tuệ u mê chuyển hóa thành năng lượng sinh khởi trong tâm có sức mạnh giúp trí tuệ giác ngộ sau khi về được chân tâm. Muốn diệt được trí tuệ u mê thì phải thấu hiểu căn cơ trí tuệ của họ đang ở mức độ nào, dựa trên căn cơ trí tuệ mà dùng chân tâm gieo duyên dẫn dắt chuyển hóa căn cơ trí tuệ từ u mê đến giác ngộ.

Để đạt được các mức độ cải tạo thế giới quan vũ trụ trời người thì các tuệ linh, các hành giả dưới nhân gian phải mở cánh cửa trí tuệ, trí tuệ không được định vào giả tướng để tâm có sức mạnh tương trợ dẫn dắt trí tuệ thấu hiểu nhân quả, thấu hiểu chân lý vạn vật và chân lý giác ngộ để chuyển hóa giả tướng thành lợi ích cho chúng sinh. Dựa trên mức độ hi sinh lợi ích cá nhân để mang lại lợi ích lớn lao và cải tạo sự sống của vũ trụ trời người mà đắc được các quả vị khác nhau trên con đường đắc quả vị cuối cùng là Quả Không.

Nguyên nhân cội nguồn là do trụ linh của tuệ linh được hợp thành bởi phôi năng lượng có hạt năng lượng dương mang sóng điện dương mạnh hơn. Do đó khi tuệ linh xuống nhân gian tu hành, nó giống như là gen di truyền từ tuệ để chân tu luôn hướng đến phát triển, lan tỏa, cho đi những giá trị đạo đức nhân văn.

Khi đắc được các quả vị cải tạo thế giới quan vũ trụ, nếu các tuệ ngừng không cải tạo thì họ sẽ bị chuyển hóa xuống phẩm vị thấp hơn. Nếu họ phá hoại thế giới quan thì họ sẽ đọa thành ngã quỷ. Các ngã quỷ đang phá hoại, họ dừng phá hoại mà thấu hiểu để cải tạo thế giới quan thì họ sẽ chuyển hóa mà đắc được các quả vị.

Như vậy giữa cải tạo và phá hoại thế giới quan là danh giới mong manh, nó không bất tử hay trường tồn ở mãi ở cảnh giới phá hoại hay cảnh giới cải tạo, nó sẽ chuyển hóa do duyên. Duyên hợp sinh khởi pháp thiện mà hành đạo cải tạo là do trí tuệ không định vào giả tướng, để chân tâm dẫn dắt thân tướng hành đạo. Duyên hợp sinh khởi pháp ác mà phá hoại là do trí tuệ định vào giả tướng, dẫn đến tâm ngã quỷ mà hành đạo phá hoại. Thông qua chân lý vạn vật để thấy rằng, bất kỳ tuệ linh trời người nào, phẩm vị cải tạo nào, mức độ phá hoại nào đều có thể bị mất quả vị, đó là duyên, là nhân quả của vạn vật trời người.

 

8.4. Chân lý giác ngộ

Chân lý giác ngộ là: “À, đời là bể khổ. Chúng sinh trời người phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ giải thoát hết tất cả các khổ đau trong và ngoài vũ trụ, trời và người”.

Dùng chân lý giác ngộ trong Tuệ là: “Tuệ là bể khổ, chúng sinh phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ giải thoát hết tất cả các khổ đau”. Tuệ ở đây bao gồm cả Ngã quỷ phá hoại thế giới quan và các Tuệ đạt được mức độ cải tạo hay chưa đều là bể khổ, vì họ đều phải đối mặt với vòng sinh tử, đối mặt với hình tướng, với tâm, với trí tuệ, với thấu hiểu hai chân lý, với hành đạo cải tạo hay phá hoại vũ trụ trời người.

Quỷ, yêu tinh, cô hồn, địa ngục là khổ, đó là khổ vì không nhận ra khổ đau, khổ vì phải đối mặt với sự đọa đày và sự hoại diệt, khổ vì u mê của trí tuệ định vào vào giả tướng mà chuyển hóa tâm thành ngã quỷ để rồi làm tổn thương chúng sinh trời người. Ngã quỷ là màn đêm, đó là cái khổ của sự lạnh lẽo, của sự giả dối không có thật, cái khổ của sự dối trá lừa hại chúng sinh trời người, cái khổ của sự chạy trốn ánh sáng sự thật, cái khổ của sự cố gắng kiệt cùng để phá hoại sự sống của vũ trụ trời người. Cái khổ của sự đấu tranh khốc liệt giữa trí tuệ và tâm để chuyển hóa giác ngộ, họ đấu tranh nội hành khốc liệt để thoát khỏi ngã quỷ…Họ chỉ có thể dùng chân tâm đối mặt thấu hiểu nhân quả, chân lý vạn vật và giác ngộ mới chuyển hóa từ ngã quỷ về chân tâm và hành đạo để cải tạo trụ linh của tuệ linh được viên mãn.

Quả không, phật, bồ tát, thánh, tuệ linh, thần, tiên đều khổ. Quả Không thì không ngừng gieo duyên chiếu ánh sáng sự thật khắp trời người để chúng sinh nương tựa mà vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau, soi sáng con đường đi cho chúng sinh khắp các cõi trời đắc được quả vị Quả Không; từng bước dẫn dắt ngã quỷ chuyển hóa căn cơ để thấu hiểu mà diệt đi bản chất ngã quỷ để hành đạo cải tạo vũ trụ trời người; tiếp tục dẫn dắt các phẩm vị khác tinh tấn hành đạo cải tạo sự sống khắp vũ trụ. Phật, bồ tát, thánh, thần, tiên thì phải cố gắng vượt qua các kiếp nạn khổ đau phía trước, phải đối mặt với ngã quỷ để dìu dắt họ cùng đi về nơi ánh sáng mặt trời của hai chân lý. Tất cả đều đối mặt với vòng sinh tử, với sự hoại diệt, với sự khó khăn của con đường cải tạo trụ linh và sự sống khắp cõi trời người, của sự không ngừng nghỉ gia tăng mức độ cải tạo sự sống tại cõi trần nhân sinh và khắp vũ trụ trời người, không có gì ngoài khổ cả. Do đó chỉ có dùng chân tâm để đối mặt và từng bước cải tạo chính mình và chúng sinh trời người.

Cả tuệ đạt được các mức độ cải tạo và ngã quỷ phá hoại thế giới quan đều khổ, chỉ có dùng chân tâm của sự từ bi, hỷ và xả để không phân chia phẩm vị, quả vị, không phân biệt ngã quỷ hay các tuệ đạt được phẩm vị cải tạo mà ngạo mạn hay tự ti. Vì tất cả các dạng sống của trong và ngoài vũ trụ đều đứng trước nguy cơ hoại diệt của năng lượng hoại diệt, do dạng sống này phát triển không bền vững, gây nguy cơ nổ dây chuyền hủy diệt cả chính nó. Chính vì vậy, tất cả tuệ linh trời người cùng nhau đoàn kết, hàn gắn vết thương của chúng sinh khắp cõi trời người trong vũ trụ, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm để cùng nhau vượt qua hết các kiếp nạn khổ đau mà chuyển hóa trụ linh thành được bộ lọc năng lượng viên mãn. Đó là con đường giác ngộ viên mãn, là bất tử của tuệ linh, là đích đến cuối cùng đang chờ tất cả chúng sinh trời người đạt được.

Quả không là đích đến cuối cùng để duy trì, phát triển bền vững được tất cả các dạng sống trong và ngoài vũ trụ. Do đó các phẩm vị khác chỉ là những mức độ trên hành trình đến với đích của sự thành công. Nếu chưa đến đích thì vẫn chưa thể coi là thành công được. Do đó tất cả trời người không thể tự mãn mà quên đi điểm đích cuối cùng.

Bài này giúp cho chúng ta nhận ra đích đến cuối cùng trên con đường giác ngộ viên mãn, tránh tự cao ngạo mạn hay tự ti mà không thể tới đích. Do đó chúng ta phải quyết tâm vượt qua mọi chướng ngại để đến đích của sự thành công viên mãn. Đó là bộ lọc năng lượng viên mãn.

Các bài viết khác

Địa chỉ: Văn Phòng Khai Tâm - 138 Mễ Trì Thượng, Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội
Biên soạn: Thầy Hoàng Văn Trường (Nhật Sư Hoàn Đạo).
Website có đăng ký bản quyền, Vui lòng trích dẫn nội dung hoặc liên hệ với chúng tôi để chia sẻ bản quyền.