Phương pháp luận nghiên cứu về cơ chế, chân lý, bản chất sự hình thành, phát triển của vạn vật vũ trụ và trời – người

Để đưa ra được những cơ chế, những chân lý hợp nhất vĩ đại, những bản chất của sự hình thành, phát triển của vạn vật vũ trụ và trời người, tôi đã dùng hệ thống các phương pháp luận để nghiên cứu và thực chứng. Do đó, mỗi hành giả hay mỗi nhà khoa học cũng nên áp dụng hệ thống các phương pháp luận dưới đây để thấy sự kỳ diệu bởi những chân lý, cơ chế, bản chất trong sự hình thành, tồn tại, phát triển của vạn vật vũ trụ và trời người.

2.1 Phương pháp luận tâm linh - thiền định


Trong phần giới thiệu về tác giả, tôi đã nói về việc thiền định mà Tuệ linh (linh hồn) của tôi đã truyền dạy cho tôi trong những giấc mơ. Tôi không học thiền định từ bất kỳ người nào cũng như tài liệu nào. Phương pháp thiền định mà tôi nhận được từ Tuệ linh rất nhiều cảnh giới, tôi sẽ giới thiệu phương pháp thiền tốt nhất, hiệu quả nhất đã giúp tôi thấy và thấu tận cùng cội nguồn của nhân loại, cội nguồn của vũ trụ, cội nguồn của sự hình thành vạn vật. Đó là hạt năng lượng tận cùng. Thiền được chia ra làm các cảnh giới: thiền khai mở nhãn thần, đây là cảnh giới thấp nhất trong thiền, cảnh giới này rất nguy hiểm khi người hành thiền do tâm còn chấp ngã mà nhìn thấy ảo ảnh, thấy những cảnh không thật của vạn vật; cảnh giới cao hơn là thiền tuệ nhãn, đây là cảnh giới phức tạp, đòi hỏi người hành thiền phải thấu hiểu chân lý vạn vật và các cảnh giới, điều này có lẽ khó có người đạt được, khi thiền được cảnh giới này sẽ gia tăng trí tuệ và khám phá chân thật được thế giới quan vũ trụ; thiền cảnh giới cao nhất là thiền nhãn tâm (thiền tâm không), cảnh thiền này là người hành thiền phải điều khiển tuệ linh di chuyển được trong mã sóng trí tuệ của vạn vật trong không gian vũ trụ và di chuyển trong vô lượng kiếp. Nhiều môn sinh của tôi sau khi được hướng dẫn và trải qua thời gian đã đạt được cảnh giới thiền nhãn tâm. Cảnh giới thiền tuệ nhãn và nhãn tâm đã giúp cho tôi và nhiều môn sinh thấy sự thật của vũ trụ và trời người, thấy những bản chất, cơ chế vận hành vũ trụ và trời người. Tuy nhiên, thiền không hề đơn giản như những gì mọi người đang nghĩ, thiền cũng rất nguy hiểm nếu không đúng cách sẽ tương tác và hấp thụ năng lượng hoại diệt (năng lượng phản vật chất) dẫn đến trạng thái đa nhân cách, hoặc tâm thần phân liệt (cách mà y học đang gọi). Do đó, trong phương pháp luận này tôi chỉ phân tích và đưa ra phương pháp thiền tuệ nhãn và nhãn tâm, phương pháp này đã giúp cho nhiều môn sinh của tôi đạt được những thành tựu to lớn.

Thiền sẽ có thiền tĩnh và thiền động. Người hành thiền phải kết hợp nhuần nhuyễn cả hai phương pháp thiền tĩnh và thiền động cho cả cảnh giới thiền tuệ nhãn và nhãn tâm. Việc kết hợp giữa thiền tĩnh và thiền động chính là sự biện chứng hai mặt của một vấn đề, để đi đến sự thống nhất hài hòa và gia tăng phát triển tri thức về thế giới quan vũ trụ cho người hành thiền.

2.1.1. Phương pháp thiền tĩnh


Phương pháp thiền tĩnh là sự tĩnh lặng của cơ thể, của tâm, của trí tuệ, cơ thể nghỉ ngơi và thư giãn để trí tuệ và tâm tiếp dẫn đến vạn vật vũ trụ trời người. Thiền tĩnh là tĩnh lặng tự tại trong môi trường vận động chứ không phải tĩnh lặng trong môi trường tĩnh lặng.

Với phương pháp thiền tĩnh này, để bắt tay vào việc hành thiền thì độc giả nên đọc kỹ cuốn sách này ít nhất 2 lần rồi mới bắt tay vào thiền. Việc đọc kỹ cuốn sách này chính là việc độc giả thuộc và nhớ được các cảnh giới, các năng lượng nguy hiểm, các năng lượng tốt, cơ chế, chân lý, bản chất của vạn vật vũ trụ. Đây là điều bắt buộc và là an toàn cho người hành thiền.

Thiền tuệ nhãn, chính là việc thấu hiểu các cảnh giới, cơ chế, chân lý, bản chất của vạn vật vũ trụ trong cuốn sách này. Trí tuệ càng thấu hiểu thì quá trình hành thiền cảnh giới tuệ nhãn sẽ nhanh đạt được thành tựu lớn. Việc thấu hiểu các cảnh giới, cơ chế, chân lý, bản chất của vũ trụ chính là quá trình tạo ra các mã sóng trí tuệ liên kết giữa sóng trí tuệ của vạn vật vũ trụ với tâm của người hành thiền. Khi liên kết mã sóng trí tuệ được thiết lập thì việc hành thiền sẽ đạt được những thành tựu vô cùng kỳ diệu. Vậy khi nào liên kết mã sóng trí tuệ được thiết lập? Liên kết mã sóng trí tuệ được thiết lập khi người hành thiền thấu hiểu toàn bộ về cơ chế, chân lý, bản chất của vạn vật vũ trụ và trời người.

Thiền nhãn tâm, là việc đã tạo ra được liên kết mã sóng trí tuệ từ vạn vật vũ trụ với tâm người hành thiền thông qua phương pháp thiền tuệ nhãn, đồng thời trong các kiếp quá khứ và hiện kiếp đã và đang tiếp tục xây dựng khuôn mẫu đạo đức, gia tăng hành thiện để tạo ra vô số hạt năng lượng tốt bắn vào vũ trụ. Việc gia tăng hành thiện dựa trên nền tảng thấu hiểu hai chân lý trong cuốn sách này sẽ tạo ra lợi nhuận hạt năng lượng tốt để giúp người hành thiền đạt được cảnh giới thiền nhãn tâm. Đây là cảnh giới vô cùng khó đạt được, tuy nhiên đã có nhiều môn sinh của tôi đạt được nên nếu độc giả thực hiện đúng theo hướng dẫn hoặc được hướng dẫn trực tiếp sẽ đều đạt được thành tựu. Thiền nhãn tâm là cảnh thiền kỳ diệu nhất trong các cảnh giới thiền định, người hành thiền sẽ điều khiển được tuệ linh và các mã sóng trí tuệ từ tâm (tuệ linh) đi trong các mã sóng trí tuệ của vạn vật trong vũ trụ. Có thể nói thiền nhãn tâm là bước nhảy của mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng của tâm (tuệ linh) đến vạn vật vũ trụ và trời người.

Đối với độc giả thông qua cuốn sách này để luyện tập hành thiền, tôi sẽ đưa ra phương pháp chung cho cả hai cảnh giới thiền này, độc giả sẽ đạt được cả hai cảnh giới thiền này một cách tinh tế mà khó phát hiện ra sự khác biệt. Hai cảnh giới này cũng là biện chứng hai mặt của một vấn đề. Thiền tuệ nhãn là tạo ra mã sóng trí tuệ để thiết lập liên kết từ tâm tới vạn vật vũ trụ, thiền nhãn tâm là dùng năng lượng tốt do hành thiện để tạo lực đẩy giúp tuệ linh đi được trong các mã sóng đó thông suốt và an toàn để thấy và thấu sự thật của vạn vật vũ trụ trời người.

Đối với tôi, ngoài việc Tuệ linh đi trong các cảnh giới vũ trụ, đi trong quá khứ các kiếp khi tôi chìm vào giấc ngủ thì việc hành thiền tuệ nhãn và nhãn tâm là phương pháp luận vô cùng quan trọng có tính quyết định cho tôi thấu hiểu các cơ chế, các chân lý, các bản chất của vạn vật vũ trụ và trời người.

Các bước trong phương pháp thiền tĩnh:

-  Bước 1: đọc, nghiền ngẫm các kiến thức trong cuốn sách này. Khi thấu hiểu hết các cơ chế, chân lý, bản chất, các cảnh giới trong vũ trụ thì đó là bước tiến nhảy vọt cũng là sự an toàn cho quá trình hành thiền.

-  Bước 2: chọn nơi hành thiền không được tĩnh lặng: trong hang núi sâu, trong hình hài thiết kế như kim tự tháp, những nơi yên tĩnh, nơi có nghĩa trang, nhà tang lễ, bệnh viện, nơi điền thổ có nhiều người chết. Vì ở những môi trường này sẽ tạo ra sóng âm để tiếp dẫn năng lượng hoại diệt xâm nhập vào tâm (tuệ linh) gây ra đứt liên kết hạt năng lượng trong tuệ linh. Do đó có nhiều người hành thiền ở những môi trường như vậy đã thay đổi tâm tính và ảo giác cũng như hoang tưởng. Mục đích của thiền là cân bằng âm dương, xua tan bệnh tật trong cơ thể và khám phá thế giới quan vũ trụ chứ không phải hành thiền để đắc đạo hay hành thiền để tâm an lạc. Hiểu được mục đích này thì người hành thiền sẽ tránh được sự xâm nhập của năng lượng hoại diệt.

-  Bước 3: luôn luôn ghi nhớ, năng lượng tốt là siêu năng lượng màu vàng rực rỡ óng ánh và siêu năng lượng màu xanh ngọc lưu ly. Các năng lượng xấu là năng lượng màu đen, màu đỏ máu, màu xám. Khi thiền mà thấy những năng lượng xấu thì loại bỏ, chỉ lấy hai siêu năng lượng tốt. Cách lấy năng lượng tốt và loại bỏ năng lượng xấu khi hành thiền sẽ hướng dẫn ở các bước tiếp theo. Khi thiền mà không biết cách loại bỏ năng lượng xấu thì vô cùng nguy hiểm cho người hành thiền.

-  Bước 4: bắt đầu thiền xả. Khi hành thiền mỗi lần, độc giả nên thiền xả khoảng 15 phút để xả hết năng lượng xấu tích tụ trong người. Nguyên nhân có năng lượng xấu là do ăn uống, sinh sống trên điền thổ có nhiều năng lượng xấu, đã tu luyện nhiều môn phái dẫn đến bệnh tật và sự bất an trong tâm. Các bước trong thiền xả:

Ø    Ngồi với tư thế thoải mái nhất, khi ngồi không quan trọng việc để chân ra sao, miễn là thoải mái cơ thể để thực hiện việc hành thiền thuận lợi nhất.

Ø    Khi hành thiền phải buông bỏ những áp lực và suy nghĩ trong công việc, trong cuộc sống, buông bỏ những suy nghĩ ham muốn nhìn được các cảnh giới trong thiền, buông bỏ sự tham lam, buông bỏ sự đố kỵ, buông bỏ sự sân hận, buông bỏ sự lo lắng, buông bỏ sự kỳ vọng.

Ø    Hai tay để lên hai đầu gối, hướng hai lòng bàn tay xuống đất để tạo thành cơ chế xả năng lượng âm khí (năng lượng xấu) trong cơ thể chuyển hóa xuống đất. Bản chất của trái đất là lực hút nên việc xả âm phải thuận với bản chất đó để đạt hiệu quả trong thiền xả. Nhắm hai mắt.

Ø    Tập trung suy nghĩ ở trán, cạnh chân tóc. Điểm này chính là nơi kết tụ trạm phát sóng trí tuệ của con người đến vạn vật vũ trụ. Do đó phải tập trung suy nghĩ vào trán, chỗ chân tóc, để kích hoạt các mã sóng trí tuệ nhằm thiết lập liên kết với mã sóng trí tuệ trong vũ trụ.

Ø    Nghĩ về chân lý vạn vật (chân lý nhân quả) và chân lý giác ngộ. Để lập trình được liên kết mã sóng trí tuệ thì phải đọc kỹ để hiểu và thấu hai chân lý này trong cuốn sách.

Ø    Suy nghĩ có dòng chảy lớn siêu năng lượng màu vàng và siêu năng lượng xanh ngọc lưu ly chảy vào trán. Khi đó đồng nhất hơi thở, hít 1 hơi thở ở mũi thật nhẹ nhàng và dài thì cũng nghĩ là hai siêu năng lượng đó từ trán chảy vào lan tỏa khắp cơ thể. Tiếp đó là khi thở bằng mũi cũng thở nhẹ và dài thì nghĩ năng lượng âm (năng lượng xấu) chạy ra hai lòng bàn tay rồi thoát xuống đất. Cứ như vậy, đồng nhất hơi thở và ý nghĩ để tuệ linh của chính mỗi người hành thiền vận hành đón nhận năng lượng tốt và xả năng lượng xấu ra khỏi cơ thể. Thiền xả trong vòng 15 phút rồi chuyển sang bước thiền dưỡng cân bằng năng lượng âm dương trong cơ thể.

Hình: ảnh thiền xả

-   Bước 5: thiền dưỡng. Thiền dưỡng là bước tiếp theo của thiền xả. Các bước trong thiền dưỡng như sau:
Ø    Tư thế ngồi vẫn là thoải mái nhất. Nhắm hai mắt.

Ø    Hai tay từ tư thế thiền xả chuyển sang tư thế bắt ấn lại để phong tỏa khí hỏa không thoát ra ngoài khi hành thiền. Tư thế bắt ấn là hai tay đặt lên nhau, hai đầu ngón cái chạm vào nhau. Phong ấn như vậy để an toàn cho người thiền không bị thoát khí hỏa từ trong người ra ngoài và bị nhiễm khí âm từ bên ngoài vào người.

Ø    Việc suy nghĩ ở trán và đồng nhất hơi thở để đưa siêu năng lượng màu vàng và siêu năng lượng màu xanh ngọc lưu ly giống như thiền xả. Thời gian thiền dưỡng khoảng 30 phút. Tuyệt đối không được thiền lâu, vì thiền lâu rất nguy hiểm khi trí tuệ mất kiểm soát để tâm (tuệ linh) vô tình rơi vào hố đen hoặc các cảnh giới của quỷ là có thể rơi vào trạng thái loạn thần.


Hình: ảnh thiền dưỡng

Những lưu ý khi hành thiền xả và thiền dưỡng:

-   Những người trước khi hành thiền mà thấy cơ thể hay bị lạnh, lạnh hai bàn tay thì nên mở mắt khi thiền.

-   Khi hành thiền mà thấy đau mỏi vai gáy, đau người hay đau đầu, người rung lắc thì đó là dấu hiệu trong người bị nhiễm âm nặng, có thể trên điền thổ nơi sinh sống cũng có nhiều năng lượng xấu. Khi đó, mở mắt và tập trung nghĩ về hình ảnh của tôi, đọc thầm danh hiệu “Nhật Sư Hoàn Đạo” 3 lần. Tiếp tục đọc thầm nhiều lần câu “Tôi hóa độ cho tinh tà, ma quỷ, năng lượng hoại diệt” vừa đọc vừa dơ tay phải hướng đến xung quanh điền thổ ngôi nhà, nơi mình thiền, sau đó vẫn mở mắt ngồi một chỗ đọc nhiều lần. Kiên trì làm như vậy vài ngày cho đến vài tuần sẽ hết các hiện tượng trên. Khi hết đau hoặc hết rung lắc rồi mới nhắm mắt. Đây là chìa khóa hóa giải âm nhiễm trong cơ thể nhanh nhất khi kết hợp với thiền xả và thiền dưỡng. Bởi căn nguyên của bệnh tật, căn nguyên của người bị trầm cảm là do nhiễm năng lượng âm và nghiệp lực trong các kiếp quá khứ, do đó để diệt được căn nguyên này thì cần sự kiên trì và cố gắng thì sẽ hết.

-   Khi hành thiền mà thấy các năng lượng xấu như màu đỏ máu, màu đen, màu xám thì lại nghĩ về hình ảnh của tôi, đọc thầm danh hiệu “Nhật Sư Hoàn Đạo” 3 lần. Tiếp tục đọc thầm nhiều lần câu “Tôi hóa độ cho tinh tà, ma quỷ, năng lượng hoại diệt” cho đến khi không còn nhìn thấy năng lượng xấu nữa.

-   Khi hành thiền đạt được việc đi các cảnh giới, nhìn thấy các hình tướng trong vũ trụ, nhất là nhìn thấy hình ảnh chúa, phật, thánh thần thì không nên tin vội. Vì đó có thể là do ảo ảnh hoặc quỷ đóng giả để dẫn dụ người hành thiền đi sai đường. Khi đó, để biết những thứ đó là thật hay giả thì hãy nghĩ về hình ảnh của tôi, đọc thầm danh hiệu “Nhật Sư Hoàn Đạo” 3 lần. Tiếp tục đọc thầm nhiều lần câu “Tôi hóa độ cho tinh tà, ma quỷ, năng lượng hoại diệt”. Nếu là thật thì sẽ không bị hóa, nếu là quỷ đóng giả hay ảo ảnh thì sẽ bị hai siêu năng lượng hóa tan.

-   Tuyệt đối không học pháp của chư thiên, của thần thánh, của phật hay chúa khi thiền định. Vì các tuệ linh trên các cõi trời khác sẽ luôn dẫn dụ người tu hành tham lam và mong cầu để truyền dạy những thứ mà tuệ linh của con người đã có. Điều đó chỉ càng làm cho con đường tu hành nơi nhân gian đi vào vòng luẩn quẩn mà không có thành tựu sản sinh ra năng lượng tốt để thành đạo. Đây là những điều mà các môn sinh của tôi luôn lắng nghe sau khi chứng kiến người tu thiền hiện nay bị dẫn dụ bởi chư thiên dạy pháp mà dẫn đến sự ảo tưởng cũng như loạn thần.

-   Khi hành thiền để tuệ linh tách khỏi thân xác đi các cảnh giới (khi đó trí tuệ vẫn nhận thức rõ xung quanh), có nhiều môn sinh khi dùng ý nghĩ để tuệ trở về thân xác nhưng tuệ không thể vào được thân xác. Lúc này độc giả không nên lo lắng. Hãy nhớ câu “Tái tạo hoàn hồn”. Câu này dùng cho bất kỳ hoàn cảnh nào muốn tuệ linh trở về thân xác khi đang hành thiền.

Trong quá trình hành thiền, khi người hành thiền đạt được trạng thái thân thể ấm áp, tức là đã cân bằng được năng lượng âm dương trong người. Dần dần sẽ thấy siêu năng lượng vàng và xanh ngọc lưu ly, thấy cảnh giới hiện ra trong não bộ. Đó là những bước tiến trên con đường hành thiền.

Khi quá trình hành thiền đạt được thành tựu là thấy năng lượng tốt và các cảnh giới, người hành thiền tiếp tục thực hiện phương pháp luận gia tăng trí tuệ thấu hiểu và thực chứng vạn vật vũ trụ. Khi đó để gia tăng thành tựu thì người hành thiền phải thiền quán đến các cảnh giới bằng cách ngồi ngay ngắn, hai tay bắt ấn, nghĩ đến các cảnh giới, hay các vấn đề mà tôi đã phân tích trong cuốn sách này rồi nghĩ tuệ linh mình đến nơi đó hay vấn đề đó trong vũ trụ. Việc nghĩ tuệ linh mình đến nơi nào đó hay vấn đề nào đó trong vũ trụ chính là tạo liên kết mã sóng trí tuệ và năng lượng của tuệ làm lực đẩy liên kết đến vạn vật vũ trụ và trời người. Khi nghĩ đi các cảnh giới thì không cần lấy năng lượng như khi thiền xả hay thiền dưỡng, chỉ tập trung suy nghĩ và nghĩ tuệ linh đang ở các kiếp nào đó hay cảnh giới nào đó. Chỉ cần thả lỏng cơ thể, tập trung suy nghĩ về đích cần đến và tìm hiểu thì cảnh và tri thức sẽ được tiếp dẫn đến não bộ của người hành thiền.

Độc giả có thể thiền quán đến từng vấn đề trong cuốn sách mà tôi đã đưa ra để thực chứng sự thống nhất bởi chân lý hợp nhất của vạn vật vũ trụ. Việc hành thiền sẽ không cố định thời gian bao lâu cho các thành tựu, điều quan trọng là tâm an lạc và không mong cầu thì có thể vài tháng cho đến vài năm sẽ đạt được các thành tựu to lớn.

Tôi khuyến khích độc giả hành thiền khi có những người đã đạt được thành tựu hướng dẫn và giám sát khi thiền. Đây là phương pháp luận kỳ diệu nhất để con người thấu được vạn vật vũ trụ. Tuy nhiên, bên cạnh đó là vô vàn thử thách của các tầng năng lượng cũng như hiểm nguy khi thiền, nên độc giả cần cân nhắc trước khi tự hành thiền. Còn việc tại sao lại nhìn thấu được chân tướng các cảnh giới, các kiếp quá khứ, các cơ chế, các bản chất của vạn vật vũ trụ thì đó chính là bí mật của liên kết hạt năng lượng mà tôi đề cập ở các phần sau trong cuốn sách này.

2.1.2. Phương pháp thiền động


Phương pháp thiền động là cơ thể vẫn vận động trong môi trường vận động, chỉ có trí tuệ và tâm tĩnh lặng để tiếp dẫn đến vạn vật vũ trụ thông qua các mã sóng trí tuệ. Đó là vừa đi vừa thiền, đó là vừa làm việc vừa thiền, đó là vừa lái xe vừa thiền, vừa ăn vừa thiền, vừa trò truyện vừa thiền, vừa quan sát vừa thiền…Khi thiền động thì điều đương nhiên là mắt phải mở chứ không nhắm lại.

Thiền động là bước chuyển tiếp sau một thời gian luyện tập thiền tĩnh. Hoặc cũng có thể kết hợp song song việc thiền tĩnh và thiền động ngay từ khi thực hành thiền định. Thiền động không hề đơn giản chút nào, nó đòi hỏi sự rèn luyện trau dồi trí tuệ liên tục và sự kết hợp nhịp nhàng bởi trí tuệ, tâm, và cơ thể của người hành thiền động.

Lợi ích của thiền động chính là một phần của sự biện chứng logic và kiểm nghiệm kết quả cho quá trình thiền tĩnh. Là một phần cho sự kiểm chứng, thực chứng của các cơ chế, chân lý, bản chất của vạn vật vũ trụ và trời người. Là sự trau dồi, thấu hiểu về vạn vật vũ trụ.

Các phương pháp và cách thức thiền động:

-  Phương pháp biện chứng: đối với phương pháp này, thiền động là quá trình biện chứng, chứng thực cho quá trình thiền tĩnh và là biện chứng, chứng thực các cơ chế, các chân lý, các bản chất của vạn vật vũ trụ. Do đó, thiền động sẽ được thực hiện sau mỗi lần chứng ngộ được các vấn đề trong thiền tĩnh, các vấn đề trong cuốn sách này khi độc giả nghiên cứu đến. Cách thức thực hiện thiền động biện chứng: khi thiền tĩnh đạt được chứng ngộ về năng lượng, các tầng năng lượng thì thực hiện luôn thiền động là quan sát sự tương tác của năng lượng đó đối với cuộc sống, sự việc, hiện tượng của con người và vạn vật; khi thiền tĩnh đạt được các cảnh giới thì thực hiện thiền động là quan sát sự tương tác, ảnh hưởng của các cảnh giới đó đến cuộc sống của con người, ảnh hưởng và tương tác đến sự việc, hiện tượng của vạn vật ra sao; khi đọc các vấn đề trong cuốn sách này cũng thực hiện thiền động xem sự tương tác của vấn đề đó trong cuộc sống của con người và vạn vật có đúng như vậy không. Ví dụ 1: khi chứng ngộ được năng lượng âm màu đen là của yêu tinh (linh hồn con thú dữ), việc chứng ngộ này thông qua thiền tĩnh và thông qua lý luận của cuốn sách này sẽ thấy rõ; năng lượng âm sẽ có tính hút âm về, chúng sẽ tồn tại trong môi trường âm; do đó khi thiền động là quan sát những nơi mà hay giết mổ muông thú thì sẽ thấy những người sống ở nơi đó bị nhiễm âm, sẽ thấy tâm tính họ có vấn đề, sẽ thấy trong người họ hút âm về, sẽ thấy cuộc sống của họ gặp nhiều biến cố, sẽ thấy họ không thành công trong cuộc sống…Ví dụ 2: thiền tĩnh và lý luận trong cuốn sách nói về năng lượng màu vàng, đó là năng lượng dương, nó có tính lan tỏa và cho đi, là năng lượng đoàn kết, năng lượng hành thiện; khi thiền động quan sát ta sẽ thấy những người hành thiện, lan tỏa, đoàn kết nhân loại sẽ có năng lượng màu vàng tỏa ra từ tâm họ, họ sẽ gặp nhiều thuận lợi trong cuộc sống, họ sẽ khỏe mạnh và được nhiều người kính trọng. Đây chính là phương pháp thiền động biện chứng dựa trên thành tựu của thiền tĩnh và việc nghiên cứu lý luận trong cuốn sách này. Người hành thiền động sẽ từ đây để tiếp tục việc thiền động quan sát kiểm chứng các vấn đề phức tạp hơn nữa.

-   Phương pháp tiếp dẫn thông tin và năng lượng vạn vật vũ trụ thông qua liên kết mã sóng trí tuệ từ tâm tới vạn vật vũ trụ. Đây là phương pháp vô cùng khó đối với người hành thiền. Phương pháp này chỉ nên thực hiện và thành công khi người hành thiền thấu hiểu chân lý nhân quả và chân lý giác ngộ, chứng được các cảnh giới thiền tĩnh, đã và đang tạo ra nhiều thiện phước. Cách thức thiền động tiếp dẫn thông tin và năng lượng của vạn vật vũ trụ về tâm của người hành thiền động: cách thiền này cũng giống như cách suy nghĩ trong thiền tĩnh, chỉ khác là trong thiền động này thì luôn suy nghĩ về các vấn đề, các cảnh giới trong vũ trụ khi cơ thể vẫn đang vận động và làm việc; khi thiền động theo cách này thì các mã sóng trí tuệ được thiết lập do sự rung động bởi ý nghĩ sẽ kết nối và tuyền lại thông tin, hình ảnh của vạn vật vũ trụ vào não bộ. Nhiều người khai mở nhãn thần lầm tưởng là thiền động. Đây là cách tôi lấy thông tin trong vũ trụ, trong vô lượng kiếp về mà những môn sinh của tôi dù có rất nhiều thành tựu khi khai mở được tất cả các cảnh giới cũng chưa đạt được khả năng tiếp dẫn và thấu được chân tướng của vạn vật vũ trụ. Chỉ khi tôi chỉ dẫn, các môn sinh mới thực hiện để lấy thông tin đó về được. Ví dụ: khi tôi tập trung suy nghĩ về bản chất và mã sóng của năng lượng hoại diệt (năng lượng phản vật chất) thì các hình ảnh, thông tin của năng lượng hoại diệt sẽ hiện ra trong não bộ của tôi; sau đó tôi thiền tĩnh kiểm tra hoặc cho môn sinh thiền tĩnh kiểm tra sẽ thấy kết quả đúng như vậy. Phương pháp thiền động này chính là sự kết hợp của thiền tuệ nhãn và nhãn tâm, nó giống như thiền tĩnh vậy. Chính vì sự kỳ diệu của phương pháp thiền định mà tôi có, nên tôi thường gọi là thiền đi trong mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng.

Có lẽ tôi là trường hợp đặc biệt có được khả năng thiền tĩnh và thiện động cũng như sức mạnh của tuệ linh mà thấu hiểu và hệ thống được cơ chế, chân lý hợp nhất, bản chất của vạn vật vũ trụ và trời người. Chính vì vậy tôi đã cố gắng hệ thống phương pháp luận thiền tĩnh và thiền động để giúp cho độc giả có cái nhìn khoa học biện chứng trong nghiên cứu của mình. Phương pháp luận này đã được kiểm chứng bằng kết quả mà các môn sinh của tôi đạt được nên nó là phương pháp luận kỳ diệu nhất.

2.2. Ứng dụng hai chân lý vào quan sát và phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng


Hai chân lý chính là chân lý vạn vật (chân lý nhân quả) và chân lý giác ngộ. Hai chân lý này đã được Tuệ linh của tôi tìm ra, hành theo và thành đạo ở trong các kiếp quá khứ. Hai chân lý này chính là chân lý hợp nhất vĩ đại để dẫn dắt chúng sinh trời người thành đạo, đó là cải tạo trụ linh của tuệ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Hai chân lý này cũng là chân lý hợp nhất vĩ đại duy nhất dẫn dắt trời và người cùng duy trì sự tồn tại, phát triển vạn vật vũ trụ và trời người.

Chân lý vạn vật (chân lý nhân quả): “Vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ không tự sinh ra, không tự mất đi, khổ đau không tự đến, khổ đau không tự đi. Tất cả do duyên và nghiệp, hay còn gọi là nhân và quả”. Chân lý vạn vật là lý luận gốc nhất, lý luận cội nguồn của vạn vật vũ trụ, tuy đơn giản nhưng nó mãi mãi là chân lý, nó luôn luôn đúng với vô lượng thời gian tồn tại và phát triển của vũ trụ. Thấu hiểu chân lý vạn vật này chính là thấu hiểu cơ chế, bản chất của vạn vật trong và ngoài vũ trụ trời người. Chân lý vạn vật giúp cho trời và người thấy căn nguyên tận cùng của vạn vật, sự việc và hiện tượng.

Chân lý giác ngộ: “À, đời là bể khổ. Chúng sinh trời người phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ, giải thoát hết tất cả các khổ đau trong và ngoài vũ trụ, trời và người”. Chân lý giác ngộ là chân lý được chuyển hóa, kế thừa từ chân lý vạn vật. Đó là chân lý của sự chuyển hóa năng lượng trong và ngoài vũ trụ trời người. Chân lý giác ngộ là con đường duy nhất tạo ra các siêu năng lượng giúp vũ trụ trời người tồn tại và phát triển.

Hai chân lý chính là lý luận, là tư tưởng triết học thống nhất vĩ đại giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng” là bản chất của hai chân lý, là duy vật biện chứng, chứng thực cho chân lý thống nhất vĩ đại trên. Hai chân lý và cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng” sẽ được phân tích kỹ trong phần 2.

Dùng lý luận và bản chất của hai chân lý sẽ là phương pháp luận biện chứng khoa học để lý giải tận cùng vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người. Việc lý giải chính là ứng dụng lý luận và bản chất của hai chân lý vào quá trình quan sát, phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng. Khi ta quan sát, phân tích từ một mẫu, thậm chí đến một triệu mẫu hay vô số mẫu thì ta vẫn thấy luôn luôn đúng và không bao giờ sai với chân lý hợp nhất vĩ đại này.

Phương pháp ứng dụng: thấu hiểu hai chân lý, cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng” trong phần 2 cuốn sách này. Tiếp đến là áp dụng từ mẫu đơn giản cho đến phức tạp để biện chứng logic. Khi đó ta sẽ thấy hai chân lý này là chân lý thống nhất vĩ đại duy nhất cho sự tồn tại và phát triển vạn vật vũ trụ trời người.

Ví dụ 1: ta thấy một khối đá thạch anh. Đá thạch anh về khoa học có độ cứng 7.0, kết cấu tinh thể trong suốt, về thành phần hóa học thì trong đá thạch anh có 2 phân tử oxy và silic, gọi là silic đioxit, ký hiệu hóa học là SiO2, tính chất vật lý là khúc xạ kép. Vậy, trong khối đá thạch anh có liên quan gì đến hai chân lý và cơ chế “Phân tách, liên kết hạt năng lượng”? Tôi trả lời là hoàn toàn có, nó nằm trong hai chân lý và điều này thật là thú vị. Ứng dụng chân lý vạn vật thì ta sẽ tìm ra được cội nguồn của đá thạch anh, bởi không tự nhiên sinh ra đá thạch anh, mà là do sự tương tác vận động của trái đất, hình thành ra các khoáng sản, trầm tích, trải qua hàng triệu năm mới hình thành đá thạch anh. Các khoáng sản, trầm tích dưới sự tác động bởi nhiệt độ phun trào của núi lửa, nhiệt độ của mặt trời, nhiệt độ của trái đất, và trải qua thời gian mà tạo ra khối đá thạch anh có độ cứng và tính chất hóa học cũng như tính chất vật lý. Chân lý giác ngộ ở viên đá thạch anh chính là khả năng khúc xạ kép, tức là nó đối mặt với năng lượng trời đất, hút năng lượng âm và chuyển hóa, tỏa ra năng lượng silic dioxit để cải tạo môi trường sống xung quanh tốt hơn. Khi biện chứng cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng vào khối đá thạch anh thì ta sẽ thấy rõ cơ chế và bản chất của sự hình thành ra khối đá thạch anh. Bản chất của cơ chế phân tách là một hạt năng lượng sẽ phân tách làm hai, hai phân tách làm bốn, bốn phân tách thành tám, và cứ thế phân tách không ngừng nghỉ. Ban đầu có một phôi năng lượng âm dương, dưới tác động của nhiệt độ, thời gian, năng lượng của vật chất xung quanh để thúc đẩy quá trình phân tách từ phân tách liên kết lỏng lẻo cho đến phân tách liên kết chặt. Để quá trình phân tách đạt đến liên kết chặt thì cần hàng triệu, hàng tỷ năm. Khi phân tách sơ khai ban đầu thì đó là nhân cho thành quả về sau hình thành khối đá thạch anh là liên kết chặt, đó là bản chất của chân lý vạn vật. Cơ chế liên kết (chụp chiếu) là đá thạch anh hấp thụ năng lượng xấu xung quanh để xử lý, chuyển hóa thành năng lượng tốt, đó là bản chất của chân lý giác ngộ, là đối mặt, giác ngộ để mang lại lợi ích cho vạn vật. Có lẽ đây là điều mới mẻ, lạ lẫm với độc giả, thậm chí là khó hiểu. Sẽ đơn giản và dễ hiểu khi độc giả nghiên cứu ở các phần tiếp theo.

Ví dụ 2: ví dụ đơn giản là ta gieo một hạt thóc vào ruộng sình lầy, mấy tháng chăm sóc và hạt thóc đã trở thành cây lúa cho ra những bông lúa chín vàng. Xét theo lý luận chân lý vạn vật thì bông lúa chín vàng không tự nhiên mà có, nó là thành quả của từ việc gieo hạt (nhân), chăm sóc để nhận được bông thóc chín vàng (quả). Xét theo chân lý giác ngộ, khi hạt thóc được gieo xuống ruộng sình lầy sẽ phải đối mặt với bao nhiêu mối đe dọa, từ việc bị côn trùng hay gia cầm, gia súc ăn mất, khi cây lúa lớn thì đối diện với bệnh tật, thời tiết để rồi trổ bông và có được bông lúa chín vàng. Đó là sự đối mặt của hạt thóc với vô vàn mối đe dọa để tạo ra thành quả cho con người gặt hái, đó chính là giác ngộ. Biện chứng theo cơ chế phân tách, liên kết (chụp chiếu) hạt năng lượng thì ta sẽ thấy rõ: hạt thóc chính là kết tụ của hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương, gọi là phôi âm dương; theo cơ chế phân tách hạt năng lượng thì phôi âm dương được gặp nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng đã phân tách từ hai hạt năng lượng thành bốn hạt năng lượng, từ bốn thành tám hạt năng lượng… đó là quá trình hạt thóc nảy mầm, đâm chồi, trưởng thành, ra bông lúa và chín; theo cơ chế chụp chiếu thì hạt thóc, mầm cây, cây lúa phải hấp thụ năng lượng, dinh dưỡng, nhiệt độ để giúp cho quá trình phân tách thuận lợi và cuối cùng thành quả là bông lúa chín vàng. Đến ví dụ này, độc giả đã hình dung và hiểu hơn về ứng dụng của hai chân lý vào việc quan sát, phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng. Nhưng có lẽ vẫn còn khó hiểu. Đó là điều tất nhiên rồi. Tôi sẽ đưa thêm một ví dụ về con người để độc giả hiểu rõ hơn việc ứng dụng hai chân lý vào quan sát và phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng.

Ví dụ 3: có một người học hành tài giỏi, người này tích lũy được nhiều kinh nghiệm sau nhiều năm làm thuê nên người này quyết định mở cơ sở kinh doanh riêng. Ban đầu làm ăn rất tốt, người này nhanh chóng trở thành ông chủ giàu có. Làm được vài năm thì người này bị nhân viên và đối tác lừa gạt dẫn đến thua lỗ lớn mà phá sản. Khi người này đến gặp tôi để tìm hiểu tại sao bị lừa hại trong khi người này sống rất tốt với nhân viên, làm ăn không lừa hại ai. Khi tôi thiền kiểm tra trong tâm người này, tôi thấy có những hạt năng lượng chứa đựng thông tin và hình ảnh ở kiếp trước. Kiếp trước người này có lừa đảo chiếm đoạt tiền của một thương nhân, khiến cho thương nhân đó từ giàu có mà nghèo. Tuy nhiên sau khi lừa đảo, chiếm đoạt tiền của thương nhân đó, thì người này kiếp trước có phát triển kinh doanh và giúp đỡ được nhiều người nghèo khó. Tôi có khuyên người này là hãy vay mượn trang trải nợ, hãy tha thứ cho người hại mình, đó là nhân quả đã trả xong. Hãy tiếp tục gây dựng sự nghiệp bằng tình yêu thương đối với nhân viên và khách hàng thì anh sẽ thành công. Xét theo chân lý nhân quả thì việc bị lừa hại dẫn đến phá sản của người chủ này là do họ gieo nhân ác từ kiếp trước nên họ phải nhận quả nghiệp ở kiếp này. Xét theo chân lý giác ngộ thì họ đã và đang đối mặt với những khoản nợ, nếu họ hi sinh sự mất mát đó để trang trải trả các khoản nợ, dùng tâm thương người để gây dựng lại sự nghiệp đến thành công thì họ sẽ giác ngộ. Xét theo cơ chế phân tách, chụp chiếu hạt năng lượng thì kiếp trước người này tạo nghiệp, đã tạo thành những hạt năng lượng đen chứa đựng hình ảnh, thông tin của nghiệp lực; theo cơ chế phân tách thì hạt năng lượng nghiệp lực đó phân tách làm đôi có cùng mã sóng trí tuệ, một hạt bắn vào vũ trụ, một hạt bắn vào trí tuệ ở não bộ và lại phân tách làm đôi để một hạt đi vào trụ linh của tuệ linh; đến kiếp này, sự rung động tương tác trong kinh doanh sẽ tạo thành cơ chế chụp chiếu để hạt nghiệp lực trong vũ trụ hợp nhất với hạt nghiệp trong trụ linh của tuệ linh để trả nghiệp.

Những ví dụ bên trên chỉ là các ví dụ đơn giản chứng minh cho việc ứng dụng hai chân lý vào quá trình quan sát và phân tích vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người để thấy rằng đó là chân lý thống nhất, lý giải tận cùng của vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người.

Việc kết hợp giữa phương pháp thiền định và ứng dụng hai chân lý vào quá trình quan sát, phân tích và lý giải tận cùng vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài vũ trụ trời người là bước tiến nhảy vọt của nhân loại trong việc thấu hiểu bản chất, cơ chế hình thành, tồn tại, phát triển của vũ trụ và trời người.   

2.3 Thống nhất biện chứng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm


Một chân lý hợp nhất, học thuyết hợp nhất được hệ tư tưởng triết học chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, cũng như vạn vật vũ trụ trời người là điều mong mỏi không những của những tín đồ theo hai hệ tư tưởng trên, mà còn là mong mỏi của cả nhân loại.

Tại sao nhân loại lại mong mỏi cần có học thuyết thống nhất, chân lý thống nhất hai hệ tư tưởng triết học đó? Bởi những thành tựu và hạn chế của mỗi hệ tư trưởng triết học chưa tìm ra con đường khai sáng. Bởi chỉ có một chân lý thống nhất, học thuyết thống nhất mới giúp nhân loại đoàn kết để tồn tại và phát triển vũ trụ và trời người.

Những thành tựu của hai hệ tư tưởng triết học:

-   Hệ tư tưởng triết học duy vật biện chứng. Dẫn đầu cho hệ tư tưởng triết học duy vật biện chứng là các ngành khoa học: khoa học toán học, khoa học hóa học, khoa học sinh học, khoa học vũ trụ, khoa học vật lý. Đặc biệt trong khoa học vật lý, với chuyên ngành cơ học lượng tử và nguyên tử hạt nhân, đã lý giải được phần nào về cội nguồn của vạn vật vũ trụ. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học đã giúp cho chủ nghĩa duy vật biện chứng chứng minh và giải thích được vô số những điều bí ẩn của vũ trụ mà hàng ngàn năm qua bị che mờ bởi quan điểm thần thánh hóa, siêu nhiên huyền bí của chủ nghĩa duy tâm là các tôn giáo. Khoa học phát triển giúp cho nhân loại ngày càng phát triển và không ngừng tìm tòi, khám phá vạn vật vũ trụ trời người.

-   Hệ tư tưởng triết học duy tâm. Dẫn dắt hệ tư tưởng này là quan điểm của các tôn giáo. Những quan điểm đó đều là hình tượng hóa các hiện tượng siêu nhiên, thiên chúa, thánh thần, phật để dẫn dắt nhân loại xây dựng đức tin, tạo dựng được giá trị đạo đức nhân văn. Những thành tựu đó là vô cùng to lớn đối với nhân loại, nó kích thích nhân loại luôn luôn tìm kiếm và gia tăng giá trị đạo đức nhân văn, đoàn kết nhân loại. Nó kích thích sự tìm kiếm về cội nguồn của vũ trụ và nhân loại.

Những hạn chế của hai hệ tư tưởng triết học:

-   Hệ tư tưởng triết học duy vật biện chứng. Dù những ngành khoa học vũ trụ, vật lý lượng tử, vật lý hạt nhân nguyên tử đang dẫn đầu trong việc lý giải và khám phá vũ trụ và trời người, nhưng vẫn đang gặp bế tắc. Khoa học mới chỉ khám phá được một phần nhỏ vũ trụ, nó giống như việc ta chỉ thấy được một vài hạt cát trên sa mạc cát rộng lớn những ẩn giấu và bí mật của vũ trụ trời người. Ngay như những bí mật của các hạt năng lượng mà chính khoa học còn chưa biết hết và thấu hiểu cơ chế cũng như bản chất của nó. Khoa học đang bị gò bó vào khuôn mẫu bởi các phương trình toán học để lý giải vạn vật vũ trụ, chính điều này sẽ là hạn chế và kìm hãm sự phát triển của khoa học, bởi vạn vật vũ trụ không thể lý giải bằng vài phương trình do con người tự nghĩ và đặt ra. Khoa học vẫn chưa thể khám phá và giải mã được những bí ẩn của chính cơ thể con người, bởi con người là tổng hợp của cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng và thuyết tam hợp, do đó các phương trình toán học sẽ không thể áp dụng vào chính con người được. Khoa học vẫn chưa thể lý giải được những hiện tượng siêu nhiên, thiên chúa, thánh thần, phật trong các quan điểm của tôn giáo. Thậm chí khoa học không tin vào sự hiện hữu thế giới tâm linh của các tôn giáo và các tín ngưỡng. Cuộc đấu tranh giữa vật chất quyết định ý thức hay ý thức quyết định vật chất vẫn chưa đi đến lời giải và hợp nhất quan điểm. Như vậy, dù ghi nhận sự phát triển vượt bậc của khoa học, nhưng cũng phải nhìn nhận thẳng thắn là khoa học và chủ nghĩa duy vật vẫn còn mò mẫm trong thời kỳ tăm tối. Sự phát triển của khoa học đang gặp nút thắt chướng ngại vô cùng lớn, nếu khoa học không tháo gỡ được nút thắt này thì cho dù khoa học phát triển trong vài nghìn năm, thậm chí cả triệu năm sau thì cũng vẫn là thời kỳ tăm tối so với sự phát triển của vạn vật vũ trụ.

-   Hệ tư tưởng triết học duy tâm. Dù đạt được những thành tựu, nhưng vẫn còn vô số u mê lạc lối. Điển hình là việc thần thánh hóa, hình tượng hóa những vĩ nhân khai sinh ra các dòng đạo. Hình tượng hóa thánh thần, thiên chúa, phật để cầu xin phúc, xin lộc, xin giải hạn, xin sự giải thoát đi ngược dòng chảy quy luật tự nhiên. Những tư tưởng do các thế hệ sau trong từng tôn giáo, mang tính chủ quan đã áp đặt thành kinh kệ của các bậc khai sáng nhân loại, để thỏa mãn mục đích chính trị và cá nhân, đã làm cho những quan điểm gốc bị lệch lạc và sai lệch với ban đầu. Chính vì thế, chủ nghĩa duy tâm đang dẫn dắt nhân loại chìm sâu trong u mê lạc lối bởi không có phương pháp luận biện chứng và thực chứng. Do đó, cuộc đấu tranh giữa ý thức quyết định vật chất và vật chất quyết định ý thức của hai hệ tư tưởng triết học này vẫn chưa đưa ra được quan điểm đúng và thống nhất. Nút thắt to lớn của tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm là u mê lạc lối không có phương pháp luận biện chứng chứng thực.

Với những thành tựu và hạn chế của cả hai hệ tư trưởng triết học. Tôi nhận thấy nút thắt chướng ngại của khoa học là không có phương pháp luận tâm linh – thiền định và hai chân lý ứng dụng vào khoa học để tạo bước phát triển vượt bậc của khoa học. Khi những nhà khoa học dùng phương pháp luận tâm linh – thiền định và hai chân lý sẽ giải phóng được sức mạnh và bí ẩn của con người, sẽ thấy và thấu hiểu vạn vật vũ trụ, thấy và thấu hiểu thế giới tâm linh, thấy và thấu hiểu thiên chúa, thần thánh, phật. Khi đó sẽ chuyển hóa thành các phương pháp luận biện chứng, chứng thực để giúp chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo có cuộc cách mạng diệt đi những u mê lạc lối, phát triển sự trong sáng của đức tin và đạo đức nhân văn. Làm được điều này chính là thống nhất biện chứng được hai hệ tư tưởng triết học, thống nhất giữa tâm linh và khoa học. Nhưng, để làm được điều đó, thì sự tiên phong của các nhà khoa học trong việc thực hành phương pháp luận tâm linh – thiền định và hai chân lý có tính tiên quyết, quyết định cho sự thành công.

Đứng trước cuộc đấu tranh giữa hai hệ tư trưởng triết học vẫn đang diễn ra, thậm chí còn quyết liệt hơn. Đứng trước nút thắt chướng ngại to lớn cản trở sự phát triển của khoa học. Đứng trước các cuộc đấu tranh, chiến tranh giữa các quốc gia, giữa các dân tộc, sắc tộc ngày càng ở quy mô lớn. Đứng trước sự u mê lạc lối của nhân loại bởi những quan điểm lệch lạc không có phương pháp luận biện chứng, chứng thực. Đứng trước sự hoại diệt nhân loại và vũ trụ đang hiện hữu. Việc cấp bách của nhân loại là cần có một hệ tư tưởng với chân lý thống nhất vĩ đại, học thuyết thống nhất vĩ đại để thống nhất các quan điểm của hai hệ tư tưởng triết học trên, để thống nhất nhân loại trong sự đoàn kết, để biện chứng chứng thực được các quan điểm tôn giáo, để khai sáng cho các ngành khoa học phát triển vượt bậc là trách nhiệm của mỗi con người và của cả nhân loại. Chỉ có chân lý thống nhất, học thuyết thống nhất vĩ đại mới giúp cho nhân loại và vũ trụ tồn tại để phát triển bền vững.

Việc tôi đưa ra các học thuyết, chân lý thống nhất vĩ đại, các cơ chế, các bản chất của sự hình thành, phát triển vũ trụ và trời người, con đường tồn tại và phát triển đạo đức nhân loại là đáp ứng được việc cấp bách của nhân loại và trời người. Những phương pháp luận nghiên cứu được áp dụng để đưa ra được các học thuyết, chân lý, cơ chế, bản chất của vũ trụ trời người chính là phương pháp luận tâm linh – thiền định; ứng dụng hai chân lý vào quan sát vạn vật, sự việc, hiện tượng; thống nhất biện chứng giữa hai hệ tư tưởng triết học. Việc áp dụng các phương pháp luận này đã giúp cho rất nhiều người và các môn sinh của tôi chứng thực được sự hợp nhất vĩ đại của các chân lý, các học thuyết, các cơ chế, các bản chất sự hình thành và phát triển của vạn vật vũ trụ và trời người.

Cuốn sách “Sự Sống Của Vũ Trụ - Con đường tồn tại, phát triển của vạn vật vũ trụ và trời người bằng hai chân lý là sự biện chứng, minh chứng, chứng thực cho những học thuyết, chân lý hợp nhất vĩ đại đó. Nội dung cuốn sách bao gồm 4 phần:

Phần 1: Giới thiệu về tác giả; phương pháp luận nghiên cứu về cơ chế, chân lý, bản chất sự hình thành, phát triển của vạn vật vũ trụ và trời người.

Phần 2: Những học thuyết, chân lý, cơ chế, bản chất bao trùm vạn vật vũ trụ và trời người.

Phần 3: Cội nguồn sự hình thành, phát triển của vạn vật vũ trụ và trời người.

Phần 4: Con đường tồn tại, phát triển của vạn vật vũ trụ và trời người bằng hai chân lý.

Địa chỉ: Văn Phòng Khai Tâm - 138 Mễ Trì Thượng, Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội
Biên soạn: Thầy Hoàng Văn Trường (Nhật Sư Hoàn Đạo).
Website có đăng ký bản quyền, Vui lòng trích dẫn nội dung hoặc liên hệ với chúng tôi để chia sẻ bản quyền.